Tiểu thuyết LỜI NGUYỀN 200 NĂM (4)

LỜI NGUYỀN HAI TRĂM NĂM

Tiểu thuyết của KHÔI VŨ

(Giải thưởng Hội Nhà văn 1989-1990)

 

LNHTN 04

NĂM 1862
 

NGƯỜI ĐÀN ÔNG HỌ LÊ ĐỜI THỨ HAI

Hai mươi sáu năm kể từ khi ba gia đình đầu tiên đến sinh sống lập nên làng biển Cát đến năm 1862 nơi đây đã có vài trăm dân. Ngoài viên tướng họ Lê hai gia đình nông dân họ Trần và họ Nguyễn suốt thời gian dài đó làng biển Cát còn đón nhận thêm nhiều gia đình nông dân phiêu tán khác đến dừng lại nơi mảnh đất tận cùng của rừng miền Đông làm quen với biển vật lộn với thiên nhiên hàng ngày để giành giựt miếng ăn.

Làng biển Cát như tên gọi của nó dựng trên nền đất rừng phủ cát. Có những nơi người ta phải đào xuống hàng nửa thước mới gặp đất còn nơi cạn nhất cũng phải ngập mắt cá chân. Gần với bìa rừng cát phủ cả một cái đầm lầy cũ thành một mỏ cát lộ thiên. Một hai cây cổ thụ mọc hiếm hoi trong khu vực làng tựa như những kẻ lữ hành đứng phân vân chọn lựa giữa rừng và biển. Những căn nhà hầu như đều dựng bằng thân cây tràm loại cây có rất nhiều trong rừng và như đã được tôi luyện qua năm tháng để chịu được sự tàn phá kiểu gặm nhấm của gió biển mang đầy vị mặn. Chỉ một số ít người dân làng biển Cát làm nghề rừng họ kiêm luôn nghề trao đổi sản vật biển lấy sản vật rừng và trao đổi nông sản giữa người Việt với người dân tộc. Phần lớn dân làng biển Cát là ngư dân giàu kinh nghiệm đi biển. Không ai dám chắc chắn rằng những người đi biển ở đây có kinh nghiệm nhờ dăm ba người đầu tiên thạo nghề biển truyền cho. Cũng có thể là như vậy vì biết đâu trong số những nông dân phiêu bạt lại chẳng có người xuất thân từ một vùng biển nào đó. Dù sao rõ hơn kinh nghiệm đi biển của người làng biển Cát được tích lũy qua lao động qua những cuộc phiêu lưu trên biển vì sự sống còn của chính họ và gia đình. Họ đóng thuyền nhỏ rồi đóng thuyền lớn hơn. Họ đi gần bờ rồi ra xa hơn. Họ cũng phải trả giá bằng những tai nạn trên biển cả. Hầu hết những nạn nhân bị biển cả dìm sâu xuống đáy làm mồi cho cá thỉnh thoảng mới thấy một hai cái xác dạt vào bờ sau tai nạn. Một nhóm nhỏ dân làng biển Cát không đi rừng cũng không đi biển mà làm công việc giao lưu sinh hoạt giữa cái làng biển hẻo lánh này với các làng mạc khác dọc cái quan. Họ mở những con đường mòn nhỏ dẫn đến tổng đến châu đến huyện. Hải sản được chuyển đi và nhiều mặt hàng hóa khác được đưa về. Mặc dù vậy làng biển Cát vẫn là một làng mạc xa lạ với triều đình. Trong ý nghĩ các quan lại cai trị vùng đất miền Đông đó là một khu dân cư biệt lập không đáng kể thuộc về một thế giới khác thuộc về một vương quốc khác...

 

 

Năm 1854... 

Một hôm Gia Trí người đàn ông thứ hai của dòng họ Lê ở làng biển Cát được tin có những người lạ mặt xuất hiện ở đầu làng. Hơn ba mươi tuổi sống mười mấy năm tại làng biển này kể từ khi phải bôn tẩu khỏi thành Phiên An Gia Trí đã trở thành một chàng trai khác hẳn. Nghiệp văn chương mà cha chàng kỳ vọng khi chàng còn tuổi thiếu niên theo đòi nghiên bút nay đã phải xếp lại. Nghiệp võ nghệ cũng chỉ còn lại những buổi thanh nhàn cha con đàm luận rồi Gia Trí đi những bài quyền giải trí lòng cha. Người đàn ông đời thứ hai dòng họ Lê gọi thật đúng đã trở thành một người đi biển tuyệt vời. Thân thể chàng cường tráng tiếng nói chàng sang sảng như lúc nào cũng để lấn át tiếng sóng ngoài khơi. Chàng lại có một biệt tài mà không ai trong làng có được. Ra khơi chàng lặn xuống biển sâu đôi tai có thể nghe được âm thanh di chuyển của những luồng cá lại còn phân biệt được cả loại cá để quyết định quăng lưới hay không.

Những kẻ lạ mặt đều đi ngựa có khả năng là quân lính triều đình. Họ có vẻ mệt mỏi vì phải xuyên rừng một đoạn khá xa. Quang cảnh một làng biển lại khiến họ ngạc nhiên không giấu nổi. Khi Gia Trí ra tới người làng biển Cát đứng dạt ra nhường cho chàng tiến tới gặp khách. Từ lâu rồi mọi người vẫn xem cha con Gia Trí như hai người có uy tín đại diện cho cả làng. Một người cưỡi ngựa ra vẻ chỉ huy hỏi Gia Trí:

- Ngươi là gì của cái làng biển xơ xác này?

Máu nóng bốc lên đầu Gia Trí. Gã hỏi chàng câu hỏi vừa ngạo mạn vừa khinh miệt ấy lập tức bị chàng liệt về phía kẻ thù. Vả gã là quân triều đình những người đã gieo tang tóc đau thương cho gia đình chàng chàng cũng chẳng thể xem là bạn. Chàng nhìn một lượt nhóm người lạ. Họ đi ngựa đều có vũ khí. Nhất thời chàng không thể manh động. Chàng nén giận đáp:

- Ta là người đại diện cho dân làng.

- Các ngươi phải chăng tự lập xóm làng sống ngoài vòng kiểm soát của triều đình?

- Dân làng ta tần tảo sinh nhai không quan tâm đến phép nước. Vả đó là việc của quan nha đâu phải việc của dân đinh mà ngươi hạch hỏi.

- Được mai kia sẽ có quan chức triều đình đến đây làm việc cai trị. Ta sẽ đề nghị sát nhập làng này vào đồn điền của ta đang lập gần đây. Các ngươi sẽ được lên sổ định mức thuế thu tham gia lao dịch... thành con dân chính thức của triều đình. Nếu các ngươi ngoan ngoãn biết tòng phục ta sẽ nói giúp cho được giảm nhẹ đôi phần...      

- Ngươi là ai mà đến đây nói năng càn rỡ coi khinh dân làng ta đến vậy?

- Chỉ cần biết ta là một quan chức lãnh việc mộ dân đi lập đồn điền...

- Vậy thì ngươi hãy cút khỏi làng này nếu không muốn bị ném xuống ngựa.

- Quân khốn kiếp dám chạm đến oai ta...

Gã quan thúc ngựa lại gần Gia Trí toan quất roi vào người chàng. Gã hoàn toàn bị bất ngờ khi Gia Trí vừa né tránh lằn roi đã lập tức phản công. Chàng vươn cánh tay rắn chắc tới phía trước nắm được một bên sườn gã quan kéo gã ngã nhào xuống ngựa. Những tên đi theo vội vây lấy hai người nhưng dân làng cũng đã hình thành một vòng vây lớn hơn. Họ hò reo mắng chửi và sẵn sàng tấn công những kẻ lạ mặt. Gia Trí  trỏ mặt gã quan:

- Hãy cút khỏi nơi đây và đừng mưu trở lại.

Gã quan lấm lét leo lên ngựa rồi cả bọn hậm hực thúc ngựa quay về phía đầu làng...

Ít lâu sau quả nhiên có bọn quan nha xuất hiện tại làng biển Cát. Chúng đi đông hơn thành đoàn cả chục tên nhưng lại ôn nhu hơn. Chúng chỉ hỏi han tình thế dân làng dặn dò mọi người tiếp tục sinh sống như bấy lâu lại thương lượng cử Gia Trí làm chức việc cai trị dân làng coi làng biển Cát như một thôn chính thức thuộc quyền kiểm soát của triều đình. Việc thu thuế lao dịch được để lại chưa xét.

Những người có uy tín trong làng họp nhau bàn tính cuối cùng tất cả đồng ý đề nghị của bọn quan nha. Gia Trí không một chút ham muốn làm việc cho triều đình mối thù riêng còn canh cánh lòng chàng. Nhưng vì sự an toàn của mọi người chàng đành phải nhận.

Từ đó Gia Trí trở thành chức việc. Chàng vừa đi biển như mọi người vừa đảm nhận việc cai quản dân làng. Thỉnh thoảng chàng phải lên xã lên tổng để bẩm báo tình hình và để có những thông tin mới nhất từ đó đưa về.

Tháng 10 năm 1858 Gia Trí từ tổng về loan nhiều tin lạ. Dân làng biển Cát xôn xao về những tin ấy. Nào tin bọn Tây dương da trắng mắt xanh đã tiến công nước ta ở cửa biển ảà Nẵng. Nào tin chúng có những vũ khí rất tối tân. Nào tin chúng có một thứ tôn giáo giải thích sự sáng lập thế giới hoàn toàn khác với tín ngưỡng của ta. Còn thời sự mới nhất là đương kim Kinh lược sứ Lục tỉnh vừa nhận lệnh điều động của triều đình phải ra Quảng Nam làm tổng thống quân thứ lo việc chống giặc.

Trung tuần tháng 2 năm 1859 tin đến làng biển Cát: giặc Tây dương bắt đầu đánh phương Nam từ cửa biển Vũng Tàu. Hạ tuần lại có tin sét đánh: thành Gia Định bị thất thủ quản cơ Trương Định lo chiêu mộ nghĩa sĩ phong trào ứng nghĩa nổi lên khắp nơi.

 

NĂM 1862...

Người đàn ông thứ hai dòng họ Lê ở làng biển Cát bước vào tuổi tứ tuần trở thành một thủ lĩnh nghĩa quân dưới trướng Trương ảịnh. "ng từ giã vợ và đứa con gái thân yêu cùng bao thanh niên lên đường lo việc giữ nước. Giặc Pháp chưa hề đặt chân đến làng biển Cát dù nơi đây mọi người đã chuẩn bị sẵn sàng. Đó cũng là điều may mắn làm an lòng những người đàn ông phải từ giã xóm làng ra đi. Thế giặc lúc đầu mạnh nhưng gặp sự chống cự mãnh liệt của nghĩa quân dần dần trở nên suy yếu. Lòng nghĩa quân phấn khởi những tin ngày chiến thắng sắp kề...

Bỗng nhiên tin triều đình đưa đến: triều đình đã ký hiệp ước  với Pháp nhượng cho Pháp ba tỉnh miền Đông của lục tỉnh. Tự Đức lại ban chiếu điều động phó lãnh binh Trương Định từ miền Đông lãnh chức lãnh binh đi trấn nhậm An Giang.

Lòng người uất ức phản đối triều đình. Nghĩa quân khắp nơi tụ họp tôn Trương Định làm Bình Tây Đại Nguyên Soái tiếp tục tổ chức cuộc kháng chiến chống giặc.

Gia Trí trở về làng biển Cát một đêm trăng. Vợ con chàng được tin chàng sẽ theo chủ tướng đi xa mưu đồ việc nghĩa tuy không cản ngăn chàng nhưng cũng không ngăn đuợc bi lụy. Vợ chàng khóc lóc:

- Chốn đao binh nguy hiểm gươm giáo vô tình biết lúc nào là lúc an nguy tính mạng. Trong khi chàng còn chưa có người nối dõi. Hay là...

Gia Trí bịt miệng vợ an ủi:

- Đừng nói điều không hay ấy. Đất nước lâm nguy ta làm trai phải ra chiến trường là phải đạo. Rồi ta sẽ trở về ngày chiến thắng. Hãy chờ ta ngày đó rồi sinh cho ta một đứa con trai...

Chàng ra đi ngay khi mặt trăng còn vằng vặc chiếu.

 

NĂM 1979 

HAI VUA VÀ MỘT ÔNG TRUNG TÁ
 

MỘT

Khách là một người nhỏ nhắn tóc cắt ngắn gương mặt khắc khổ. Ông ta trạc ngoài năm mươi mặc quần áo bộ đội bạc màu đầu đội nón cối. Vừa đến trước cửa ông ta đã hỏi ngay với giọng thân tình cởi mở:

- Vua biển có nhà không?

Với Lài bất cứ ai có dáng dấp "cách mạng" như ông khách kia chị đều không có thiện cảm. Tất nhiên với một phụ nữ từng theo học chứng chỉ cuối cử nhân văn khoa Sài Gòn như Lài chị hiểu rằng không phải tập thể nào cũng gồm những người giống nhau. Nhưng đó là suy xét của lý trí. Còn trong thực tế mà thực tế lại chịu sự chi phối không nhỏ của tình cảm thì chị không thể nghĩ khác hơn. Thực tế trước hết là những gì đã xảy ra trong đời một người làm sao có thể xoá bỏ nó đi như nó chưa từng có!

Những ông "cách mạng" mà Lài biết đó là Năm Hường bí thư đầu tiên của xã Đại Dương sau ngày giải phóng. Đi đâu ông ta cũng tuyên bố: "Tui sẽ tống cổ hết bọn bóc lột ra khỏi địa phương này". Chính ông ta đã tổ chức các cuộc họp để xếp loại những ai thuộc thành phần bóc lột. Sau đó người bị giữ cải tạo tại chỗ người bị đưa lên huyện điều tra người bị đưa đi kinh tế mới như gia đình Hai Thìn. Những ngày đó Lài uất ức gặp Năm Hường lý lẽ:

- Ở cái làng biển Cát này vừa nghèo vừa hẻo lánh có hơn chi kinh tế mới mà chú bắt gia đình tôi phải dọn đi. Mà kinh tế mới đâu có phải là nơi đày đọa những người có tội.

Năm Hường trợn mắt quát:          

- Cô biết chi mà nói! Tui là bí thư. Cô chống tui tức là cô chống Đảng biết chưa?            

Vậy đó nhưng khi Hai Thìn chấp nhận ra đi Năm Hường lại đích thân tới đòi mua lại căn nhà với giá rẻ mạt. Ông ta hăm dọa:

- Vợ chồng anh đừng tưởng chịu đi kinh tế mới đã là xong. Đó là ân huệ của tui chớ không anh đã bị đưa điều tra trên huyện. Người ta đang ép tui điều đó. Nhưng tui sẽ bảo vệ anh nếu tui mua được căn nhà...

Hai Thìn nổi xung thiên đòi ở lại tới đâu thì tới. Chính Lài phải khuyên can chồng để anh chấp nhận yêu sách của người có quyền sinh sát trong tay. Hai Thìn nhận số tiền lập tức đi mua vật liệu dựng cho Tòng Út căn nhà nhỏ một mặt đền ơn Tòng Út thời gian anh ta giúp việc nhà anh như người thân mặt khác biểu lộ sự phản kháng yếu đuối mà lại ngầm thách thức của mình!

Những ông "cách mạng" mà Lài biết còn là Sáu Thế. Sáu Thế cũng không phải người địa phương như Năm Hường. Anh ta là đệ tử của Năm Hường khi ông được đề bạt lên trưởng phòng xây dựng huyện ông đã giới thiệu Sáu Thế về xã Đại Dương. Căn nhà mua lại của Hai Thìn khi chuyển lên huyện Năm Hường sang lại cho người khác với giá cao rồi tậu môt căn nhà kha khá trên đó để ở. Sáu Thế về xã Đại Dương chọn Năm Mộc là kẻ tin dùng thông qua Năm Mộc mà làm nhiều điều không được bà con đồng tình. Để có thành tích để được lòng cấp trên Sáu Thế không cho bất cứ ai cãi lệnh anh. Tất cả ngư dân phải vào tập đoàn nếu không thì  chỉ còn một cách bỏ nghề đi biển. Toàn bộ hải sản đánh bắt được phải bán cho tổ thu mua dù có bị ép giá. Các phụ lão làng biển Cát phải lập vườn cây ăn trái trên đất phủ cát tới khi không loại cây nào sống được mới được giải tán hội làm vườn. Sáu Thế chỉ chịu nhượng bộ có một lần...

Căn chòi của vợ chồng Lài bị cháy sẽ chẳng ai biết được nếu tối hôm đó trong lúc ngồi nơi sòng bạc say men chiến thắng Năm Mộc chẳng tự phun ra cái thành tích đáng khinh bỉ của mình. Ông ta không ngờ trong gian phòng kế đó Hai Thìn bị tạm giữ nghe lọt tai. Máu nóng bốc lên anh đạp tung cửa qua phòng trực của du kích nắm ngực áo Năm Mộc lên hỏi tội. Anh ném ông ta ngã nhào trên chiếu bạc rồi đi thẳng đến nhà Sáu Thế đòi kiện Năm Mộc đốt chòi mình. Sáu Thế hoàn toàn không ngờ Hai Thìn dám hành động mạnh tay như vậy. Có lẽ lo sợ sự hung hăng của Hai Thìn có thể làm nổ ra một vụ tai tiếng lớn ở làng biển Cát không có lợi cho mình Sáu Thế đấu dịu. Anh ta thương lượng một mặt hứa sẽ bắt Năm Mộc kiểm điểm mặt khác đồng ý cho gia đình Hai Thìn tạm trú lâu dài với điều kiện anh phải giữ im lặng vụ đốt chòi của Năm Mộc...

Những ông "cách mạng" như thế đã gieo vào lòng Lài những thành kiến. Bây giờ trước mặt chị lại là một ông "cách mạng".         

"Mặc kệ". Lài tự bảo mình chẳng cần phải đối phó. Cách sống của chồng đã ảnh hưởng nhiều đến chị. Sống sao cho mình cảm thấy thoải mái nhất miễn là không gây thiệt hại cho ai. Còn những khó khăn phiền toái trong đời sống nó đến thì cứ đến. Chị mời khách ngồi uống nước. Chị rót nước sôi trong bình thủy để pha một ấm trà ướp lài thứ trà chồng chị thích. Khi chị mở cái tách úp trên đĩa sứ ra nơi đáy đĩa có một bông hoa lài tươi thoảng mùi thơm dịu. Chị thầm theo dõi phản ứng của khách chờ một câu nói như của Sáu Thế:

- Tới bây giờ mà chị vẫn còn sống theo kiểu tiểu tư sản à?

Đúng là cái bông hoa lài trắng ngà nằm trên đĩa sứ đã khiến ông khách phải chú ý. Nhấp một ngụm trà nóng lặng một chút để thưởng thức hương lài thơm ông khách gật gù:

- Tuyệt lắm! Đã lâu lắm rồi tôi mới được uống một chén trà giàu hương vị. Tiếc rằng ông chủ vắng nhà và đây chưa hẳn là một kiểu trà đạo!

Lài ngỡ ngàng. Khách tỏ ra lịch lãm khác hẳn chị nghĩ về ông ta. Ông ta lại nói thêm:

- Tôi có thể ngối một mình đợi anh ấy về. Chị có việc gì bận xin cứ tự nhiên cho.

Lài đã nói:

- Vâng xin phép chú vậy .

Nhưng vừa quay đi chị lại đổi ý. Chị hỏi khách:

- Xin lỗi chú cho tôi hỏi có phải chú ở xa mới tới?

Ông khách  cười:

- Đúng là tôi ở xa. Nhưng tôi đã đến vùng này từ nửa tháng nay. Nhà tôi ở bên ấp Sở Dừa ít khi sang đây. Chị còn muốn hỏi tiếp điều chi? Thôi cứ cho tôi giới thiệu đã. Tôi tên Thực anh em quen gọi là thủ trưởng Thực gọi tắt là Ba Tê gọi đùa là Patê. Hồi giải ngũ tôi mang quân hàm trung tá gọi đủ là trung tá Thực gọi tắt cũng là Ba Tê. Vậy nên chị có thể gọi tôi là Thực là Ba Tê hay Patê đều được cả...

Lài không thể nín cười. Lần đầu tiên chị có cảm tình với một ông cách mạng.

Khách vẫn cười nói tiếp:

- Mới về tôi đã nghe kể chuyện về vua biển chồng chị. Có lắm điều tôi cho là người ta thêu dệt thêm tôi chưa thể tin ngay. Hôm nay tôi sang tìm anh ấy để coi vua biển mặt mũi thế nào tính nết ra sao và có thật lắm tài như người ta nói?

    

HAI

 

Con đường đưa Mười Hòa về nơi an nghỉ cuối cùng giống như những người đã khuất khác của làng biển Cát bao lâu nay vẫn ngoằn ngoèo lại gồ ghề. Người ta lấy đá gạch rải trên đường hy vọng sẽ làm cho con đường dễ đi hơn nhưng cát đã nuốt chúng vào mình có chỗ đẩy chúng dồn đống. Con đường cứ thế ngổn ngang gồ ghề bao năm nay.

Tấm hình của Mười Hòa phóng lớn chụp hồi anh ta còn trẻ bộ ria mép coi vừa hùng vừa đểu. Thực ra Mười Hòa là một ngư dân hết sức hiền lành. Cả cuộc đời anh là những chuỗi ngày đi biển uống rượu đánh bài ngủ với vợ bồng ẵm con cưng chiều không ai sánh bằng. Anh hiền tới nỗi dù chẳng biết quản lý ra sao dù trong lòng không hề muốn chút nào nhưng khi Sáu Thế cử anh làm tập đoàn trưởng tập đoàn đánh cá anh cứ im lặng không nhận mà cũng không từ chối. Vậy là Muời Hòa trở thành tập đoàn trưởng. Dường như người xưa nói đúng thánh nhân đãi kẻ khù khờ tập đoàn phó của anh Ba Vui con rể Năm Mộc. là một tay tháo vát tuy đôi lúc ngang bưóng không ai can nổi. Chẳng sao với Mười Hòa anh chỉ cười trừ. Hai Thìn trở về làng biển Cát trong một trận nhậu say Ba Vui nói với Mười Hòa:

-  Chú Mười nhường cái chức tập đoàn trưởng cho Hai Thìn đi chú là cục đất là ông Phật còn ảnh là vua biển.

Chẳng giận Mười Hòa còn gật gù hồn nhiên:

- Phải đó để bữa nào tao đề nghị ông chủ tịch. Ở làng biển Cát này tao tuy lớn tuổi nhiều tuổi nghề hơn Hai Thìn nhưng tao tôn nó là sư phụ.

Cái chết của Mười Hòa khá bất ngờ. Người đi biển ấy không chết vì sóng to gió lớn của biển khơi mà anh chết vì đạp phải sợi kẽm gai han rỉ lên cơn phong đòn gánh chở tới bệnh xá xã thì tắt thở. Chị Mười Hòa mọi người gọi bằng tên chồng vì từ khi chị chung sống với anh mọi người đã quên hẳn cái tên thời con gái của chị là một phụ nữ khéo chiều chồng nổi tiếng là đoan chính. Chị gào lên ở bệnh xá xã:

- Trời đất ơi! Anh Mười ơi! Sao anh nỡ bỏ má con tui côi cút! Anh để cho má con tui khổ anh ác quá mà.

Lúc này đi sau chiếc xe đòn chở quan tài chồng chị Muời Hòa lại gào lên những câu tương tự:

- Anh để cho má con tui khổ sao anh ác quá vậy anh Mười ơi!

Dìu chị là mấy người phụ nữ thân thiết: cô Út con gái ông già Bảy cô Tám vợ Ba Vui và một hai người lối xóm. Sáu Thế đại diện chính quyền đi bên Ba Vui. Hai Thìn đi sau gần cuối. Phía trước xe đòn là một nhà sư vừa đi vừa gõ mõ tụng niệm. Ông mặc áo già lam đội mũ ni lưng còng xuống thành dáng nhọc nhằn khốn khổ.

Con ó lửa hỏi Hai Thìn:

- Nhà sư ấy là ai?

Anh đáp chẳng ra buổn chẳng ra vui:

- Đó là nhà sư Thích Huệ Mẫn trước kia tên là Hai xung phong là cha ruột của ta.           

Con ó lửa:

- Thật bất ngờ. Vậy sao từ khi về đây tôi chưa thấy ông gặp cha ông lần nào?

Hai Thìn:

- Cha ta giận ta từ bao năm nay rồi. Kể từ khi ta cãi không làm theo lời ông một việc lại còn nói: đời con dẫu sao cũng không làm điều gì xấu xa hay ác đức. Ông cho là ta nhiếc móc ông. Ta chẳng sao đính chính được.

- Tôi không hiểu.

- Đó là chuyện buồn của gia đình ta rồi mi sẽ hiểu.

Tòng Út đi sau cùng cô đơn tội nghiệp. Không có cây đàn ống tre ở đây để nghe anh tâm sự. Có đi chung với cộng đồng người Kinh như những lần thế này anh mới nhận rõ hơn sự nhỏ nhoi lạc lõng của mình. Vậy mà có lúc anh đã mơ tưởng tới chuyện sống chung với một cô gái Kinh cô Út đang dìu vợ người mới khuất đi phía trước kia. Một cô gái có bằng tú tài từng chê trai làng biển Cát là tục tằn ít học để đành chịu cảnh phòng không sao có thể đoái hoài đến anh một gã đàn ông người dân tộc xấu xí bất tài chỉ có tiếng đàn và lời ca làm bạn.

Vãn đám tang Sáu Thế đi theo Năm Mộc và Ba Vui về hướng nhà họ. Nhà sư Thích Huệ Mẫn bỏ đi tránh không cho Hai Thìn chạm mặt. Cô Út tìm gặp anh và Tòng Út:

- Ông già em nhắn hai anh tới lai rai với ổng. Ổng đang buồn chuyện ngôi đình làng nguời ta cho kinh doanh ăn uống...

Rồi cô gái quay lại cùng Tám và hai người phụ nữ lối xóm đưa má con vợ Mười Hòa về nhà.

Cái nghĩa trang của làng biển Cát có tự bao năm trước mồ mả cái cao cái thấp cái cũ cái mới nằm chen lấn nhau trong khu đất nối rừng và biển nối làng người Việt với làng người dân tộc khi mọi người  ra về trở lại vẻ quạnh hiu thường ngày. Sự sống nếu có thể gọi như thế còn lại ở đây chỉ còn những nén nhang cháy đỏ khói uốn mình trong cơn gió rừng xào xạc...

 

BA

 

Cuối cùng người tỉnh táo nhất lại là Sáu Thế. Đó là điều bất ngờ với cả chính anh. Năm Mộc người phải nghe anh trút bao  phiền não qua lời kể khi bực dọc khi đau khổ của anh đã gục ngay trên giường nhậu. Ba Vui cầm cự được tới xị thứ mười nhổ nước miếng phì phì rồi cũng lật nhào.

Sáu Thế chống tay đứng dậy rời khỏi cái giường nhậu bừa bãi mực nướng cá nướng nước mắm me ớt rau sống những xị rượu trống rỗng và hai con người một già môt trẻ nằm như hai cái xác biết thở. Năm Mộc và Ba Vui sẽ phải nằm như thế cho tới khi cô Tám về. Kệ họ! Đó không phải là điều Sáu Thế cần quan tâm.

Sáu Thế bước ra khỏi căn nhà lợp tôn nóng hừng hực của Năm Mộc cảm thấy những tia lửa mặt trời đang vây lấy mình mà thiêu cháy. Anh bước loạng choạng trên đường cát bỏng đầu thì nghĩ mình phải cố về tới trụ sở ủy ban kiếm chỗ nào đó nằm nghỉ nhưng chân anh lại hướng về phía biển. Khi anh nghe tiếng sóng vỗ ào ạt vào những gộp đá nơi bờ biển - những gộp đá mà người làng biển Cát bảo là vũ khí của Thần rừng để lại khi đánh nhau với Biển cả - anh mới biết là mình ra biển! Bất ngờ như chuyện bất ngờ mới đây vậy!

Trung tá Thực ông Ba Tê đảng viên về hưu sinh hoạt trong chi bộ xã ảại dương lần thứ nhì dự họp chi bộ đã dám phát ra những ý kiến "đấu thẳng" Sáu Thế! Ông ta gọi tội của anh là tin dùng Năm Mộc để cho Năm Mộc lợi dụng sách nhiễu nhân dân là hay hù dọa cưỡng ép nhân dân làm việc này việc nọ thay vì giải thích thuyết phục họ. Rồi nào là không biết đãi ngộ người lao động có tài như Hai Thìn vừa không đem lợi ích cho tập đoàn đánh cá vừa tạo điều kiện cho kẻ xấu tuyên truyền chống cách mạng. Sáu Thế run lên vì giận. Bí thư chi bộ một người hiền lành lúc nào nói năng cũng ôn hòa phát biểu:

-  Đồng chí Thực mới về chưa hiểu hết nguồn cơn để từ từ chúng ta sẽ giải thích cho đồng chí ấy rõ. Nhưng đồng chí Sáu cũng phải lưu ý...

- Ba phải!

Sáu Thế phản đối. Ba Tê lấn tới đòi được giải thích ngay từng vụ việc. Sáu Thế không nén nổi đập bàn:

- Chi bộ này từ trước đến nay vẫn đoàn kết nhất trí cao. ảồng chí mới về đã làm cho mọi người hoang mang nghi ngờ nhau. Đó là hành động của kẻ phá hoại Đảng.

Ba Tê không kém cũng đứng lên:

- Đồng chí chụp mũ tôi đấy chắc? Chụp cho tôi cái mũ gì? Là gián điệp CIA hay là tay sai bành trướng Bắc Kinh? Xin lỗi tôi có ba mươi năm tuổi Đảng làm cách mạng từ khi đồng chí còn là một đứa bé con...

Bí thư chi bộ tuyên bố:

- Ta kết thúc buổi họp ở đây. Các đồng chí nóng nảy quá...

Sáu Thế thấy mình bị lăng nhục. Anh đứng trên một gộp đá. Sóng biển áo ạt từ xa đến đập vào những gộp đá như bầy gấu trầm mình tắm mát bọt tung trắng xóa quất cả vào người Sáu Thế. Ba Tê mới về đã gây chiến với anh khen vua biển khi chưa hề gặp anh ta rõ ràng là có ý đồ gì đó. Hay là ông ta muốn hất anh đi để chiếm lấy cái vị trí hiện tại của anh? Không! Ở Đại Dương Sáu Thế là vua. Chỉ một mình Sáu Thế.

Anh gào lên giữa khoảng trời bao la của bãi biển vắng người nắng như dổ lửa sóng vỗ bờ không ngơi nghỉ:

- Ta là vua... Ta là vua...

Anh không còn nhận ra mình đang làm gì nữa khi cơn giận trào lên chiếm lĩnh sự tỉnh táo còn sót lại. Anh không hề nhận ra mình vẫn chìm trong cơn say. Kể cả khi một con sóng lớn bất ngờ chồm lên phủ lấy người anh...

 

BỐN

 

Tan tiệc Hai Thìn ra về lòng trĩu buồn. Ông già Bảy tức giận là phải. Người ta lấy đình làng làm văn phòng làm kho nay lại làm nơi bán buôn ăn uống. Chỉ tiếc là Hai Thin không thể cùng ông già Bảy ký tên trong tờ đơn xin lại ngôi đình gởi chính quyền xã. ảến lúc này anh vẫn còn là người tạm trú chưa có hộ khẩu dù anh đã dựng được nhà riêng hợp pháp.

Hai Thìn không về nhà. Đứa con gái lớn chạy tới nhà ông già Bảy nhắn nhà có khách chờ một ông "cách mạng". Anh bảo nó nói với Lài anh không về được. Anh không muốn tiếp khách "cách mạng". Lòng anh đầy mặc cảm. Anh quyết định đi ra biển để tìm sự khuây khỏa để có thể nhớ Mười Hòa nhiều hơn. Tội nghiệp anh ấy quá...

Con ó lửa dụi đầu vào má Hai Thìn:

- Đừng ra biển tôi không thích lũ gió biển mà.

Anh vỗ về nó:

- Cả năm rồi mi chưa quen được biển sao? Gió biển chỉ nghịch ngợm chứ đâu có ác ý gì. Kìa chúng đang kéo đến.

Lũ gió biển vây quanh Hai Thìn:

- Hãy đi ra phía những gộp đá để chứng kiến một cảnh hãi hùng. Đi nhanh lên vua biển.

Nơi bãi biển có những gộp đá Hai Thìn thấy một người nằm úp sấp trên cát bất tỉnh. Một con sóng lớn lại bắt đầu chồm vào bờ đánh mạnh vào các gộp đá đổ ào vào người anh và reo lên: