Tiểu thuyết LỜI NGUYỀN 200 NĂM (5)

LỜI NGUYỀN HAI TRĂM NĂM

Tiểu thuyết của KHÔI VŨ

(Giải thưởng Hội Nhà văn 1989-1990)

 

LNHTN 05BIA 2 LN200N

NĂM 1864 

KẺ PHẢN BỘI

Nghĩa quân chiến đấu dưới cờ Bình Tây đại nguyên soái phải chịu bao gian khổ hiểm nguy. Giặc Pháp mở nhiều cuộc tấn công tuy không tiêu diệt được lực lượng ta nhưng cũng gây nhiều tổn thất về người và khí giới. Nghĩa quân phải chuyển dịch liên tục. Một số ít đã  xuất hiện đôi phút yếu lòng. Gia Trí là một trong số ấy. Ông thương vợ con sống thiếu chồng cha nơi quê hương. Ông ứa nước mắt khi nghĩ đến cảnh đau lòng ông chẳng may bỏ thây nơi chiến trận dòng họ Lê của ông sẽ chẳng còn ai nối dõi.

Công Tấn cùng theo phò Trương Định như Gia Trí từ những ngày đầu. Gã bắt liên lạc với ông đúng vào lúc ông mơ ước một cuộc sống an nhàn nơi quê hương. Ông đã xiêu lòng.

Hạ tuần tháng 8 năm ấy trận đánh ở Kiểng Phước có bàn tay phản bội của Công Tấn và Gia Trí tiếp sức với giặc Pháp. Trương Định bị trọng thương rút gươm tự sát không để cho bọn phản bội bắt giết mình.

Công Tấn hết sức vui vẻ báo cho Gia Trí biết bọn gã sẽ được trọng thưởng. Gã hỏi ông:

- Huynh muốn nhận một chức tước hay vàng bạc của người Pháp thưởng ban? Cứ nói thật lòng đệ sẽ liệu bề toan tính.

Gia Trí không đáp lòng hối hận dày vò ông. Ông lặng lẽ bỏ về làng biển Cát đoàn tụ với vợ con. Ông nói với vợ mình đã theo chiến đấu dưới cờ Bình Tây đại nguyên soái đến những phút cuối cùng nay nghĩa quân tan rã ông trở về sống lại cuộc đời một người đi biển nuôi vợ nuôi con.

Qua năm sau vợ Gia Trí sinh một con trai. Ông vui mừng đặt tên đứa bé là Châu Toàn.

 

NĂM 1983 

MỘT ĐÊM TRĂNG 

MỘT

Theo quyết định của Hội đồng Bộ trưởng từ tháng 9 năm 1982 xã Đại Dương được điều chỉnh về phần lãnh thổ. Ngoài các ấp cũ là Biển Cát Sở Dừa sát nhập thêm ấp Đoàn Kết mới hình thành do việc định cư của nhóm đồng bào dân tộc trước đó sống rải rác và du canh du cư trong rừng sâu. Mấy mươi nếp nhà được huyện đầu tư kinh phí xây dựng theo kiểu nhà truyền thống của bà con người dân tộc. Ấp trưởng là một người dân tộc ngoài năm mươi tuổi từng đi kháng chiến từ lúc mười hai tuổi qua chống Pháp chống Mỹ chức vụ cao nhất là đại đội phó để lại chiến trường một bàn tay. Nhưng đó chỉ là người lãnh đạo về mặt chính quyền. Người lãnh đạo cao nhất của bà con ấp Đoàn Kết lại là một bà già trên trăm tuổi không ai rõ tên thật là gì người Việt trước kia gọi bà là bà Cả Mọi sau này vẫn tiếp tục gọi bà như thế nhưng không còn mang ý nghĩa phân biệt khinh rẻ nữa. Bà Cả Mọi không dời vào ở trong khu vực quy hoạch của ấp Đoàn Kết bà vẫn ở trong căn nhà sàn nhỏ của mình cất giữa rừng. Bà lủi thủi một mình làm rẫy khá kỳ lạ vẫn làm được như mọi người dù tuổi già sức yếu. Bà không vào ấp thăm ai chỉ có những người già trong ấp tìm đến thăm bà giữa rừng nghe ý kiến của bà mỗi khi bà con có chuyện gì phải suy tính cân nhắc. Đã mấy lần đại diện chính quyền xã Đại Dương đến gặp bà Cả Mọi thuyết phục bà về ở chung với con cháu trong ấp Đoàn Kết nhưng bà lão vẫn giữ ý của mình. Bà nói:

- Khi nào tao thấy con cháu tao trong ấp được sống no ấm đúng như lời đã hứa của xã tao sẽ về với chúng nó.

Với con cháu mình bà giải thích:

- Tao có ở trong rừng tao mới lo cho chúng mày được. Tao về ấp chẳng còn ai đi đòi xã giúp chúng mày đâu. Ấp trưởng có chức rồi sẽ sợ chẳng dám kêu ca cho dân nữa.

Trong làng biển Cát từ lâu rồi người ta truyền miệng nhau nhiều câu chuyện hoang đường về bà Cả Mọi. Nào là bà lão là một bà phù thủy có phép nhịn đói hàng tháng tự ướp xác mình mỗi đêm để có thể trường thọ. Nào là bà lão biết nói tiếng chim bà vừa làm rẫy vừa hát líu lo thật ra là trò chuyện với chim rừng... Lại nữa ai cũng biết chính bà Cả Mọi là người già làng dân tộc đã nghĩ ra cách trừng phạt Tòng Út cách trừng phạt còn nặng hơn xử chết.

Đêm trăng này êm ả. Rừng vắng lặng như tờ.

Tòng Út đi vào rừng từ lúc trăng bắt đầu lên đỏ quạch và to. Anh bước thật nhanh khi phải qua ấp Đoàn Kết để không ai nhận ra mình. Vào rừng rồi anh mới đi chậm lại. Mà anh cũng không sao đi nhanh hơn. Càng tới gần nhà bà Cả Mọi bước chân anh càng như kéo lê. Anh luôn mong có dịp gặp bà Cả Mọi nhưng anh cũng rất sợ phải chạm mặt bà. Ánh đèn dầu le lói giữa rừng như con đom đóm rồi bằng một vệt trăng vạch lá rừng rồi rõ hơn. Chẳng phải tiếng chim cũng chưa hẳn chỉ là tiếng bà Cả Mọi giọng hát từ căn nhà sàn giữa rừng cất lên như lẫn cả tiếng Thần rừng cao siêu và huyền bí.

Taa'ae srek

N' drek ae oui

N' droui ae Kung

..........................

Tiếng của Thần rừng tiếng của dân tộc Tòng Út thứ tiếng thiêng liêng mà bao năm nay anh chỉ được phép nói trong đầu không dám nói thành lời dù chỉ có một mình anh biết. Anh không dám nói một mình tiếng nói của dân tộc mình bởi Thần rừng sẽ biết hết anh lại thêm một lần phạm tội. Tiếng hát giữa rừng đêm trăng này rót vào lòng Tòng Út nỗi sung sướng đến nghẹn ngào. Anh hát theo bằng ý nghĩ trong đầu:                 

Mác thì phải có cán

Ngủ thì phải có chăn

Lấy nhau phải có cỗ có vòng

Yêu nhau mà không lấy được

Cán chẳng có gì tra

Chăn chẳng có người đắp

Cây thành trơ cành dù lá vẫn xanh

Suối thành cạn khô dù cá vẫn quẫy

Người chỉ còn xác chẳng có hồn...

 

 Tiếng hát của bà Cả Mọi trong như tiếng con gái nhưng mà buồn quá. Ngày xưa đó chính bà đã dạy Tòng Út hát bài hát này. Bà hát rồi bà khóc như là lời hát chính là tâm sự đời bà vậy. Thời con gái của bà chẳng ai biết rõ chỉ biết khi lớn lên bà cứ sống một mình. Bà gùi gạo cho người dân tộc mình ăn no đánh Pháp bà vác đạn cho bộ đội đánh Mỹ bà đắp mồ cho những chiến sĩ hy sinh khóc họ đọc kinh khấn Thần rừng làm đẹp hồn họ như với người thân. Tất cả người dân tộc đều được bà xem như là con cháu. Bà thật vĩ đại. Nhưng cũng thật khắt khe. Bà đã trừng phạt Tòng Út.

Anh đã đến bên thang nhà sàn đưa mắt nhìn lên khe cửa vạch một đường sáng đèn. Chưa kịp bước lên thang thì tiếng hát trong nhà đã bặt rồi giọng nghiêm nghị của bà Cả Mọi vọng ra:

- Đứa nào ở ngoài đó?

Tòng Út đáp bằng tiếng Kinh:

- Tôi là Tòng Út đây.

- Mày đến xin tao tha tội phải không? Mày về đi. Tội của mày Thần rừng chưa tha được. Về đi!

Lại một lần nữa Tòng Út bị nghe lời xua đuổi của bà Cả Mọi. Anh đứng chết lặng một hồi lâu. Trăng lên cao dần bớt đỏ và sáng hơn. Những đốm trăng xuyên qua kẽ lá rừng cứ lần theo từng bước đi chậm buồn và thất vọng của Tòng Út lúc một xa dần căn nhà sàn bà Cả Mọi.

 

HAI

Rừng im lặng. Biển cũng ngủ say.

Làng biển Cát những đêm trăng không như trăng với nỗi buồn cô quạnh bao năm không như rừng với mối tình si không như biển với nỗi vui chưa trọn. Cách đây hai năm có một đợt dân từ miền Trung tự phát kéo nhau đến đây cắm chòi nơi rừng phi lao để ở. Chính tại nơi mà ngày nào Hai Thìn đã dựng căn chòi và bị đốt lúc đó hàng trăm người đủ cả già trẻ lớn bé đã dựng chòi trong một đêm chỉ trong một đêm sau đó đã buộc chính quyền xã phải chấp nhận sự có mặt của họ như những người tạm trú. Họ nói với chính quyền:

- Đất có lành thì chim mới đậu!            

Vả chăng họ cũng là những người đi biển mau chóng hòa nhập với cuộc sống nơi đây. Họ vừa góp phần biến làng biển Cát thành một nơi đông đúc nhộn nhịp hơn vừa khiến cho nơi đây trở nên phức tạp. Từ đó sinh ra những mâu thuẫn giữa tập đoàn đánh cá với ngư dân đi biển tự do sinh ra các cửa hàng ăn uống về đêm sinh ra bài bạc ăn thua lớn sinh ra cả những cô gái làm tiền... Những đêm trăng sinh hoạt tại làng biển Cát ồn ào tấp nập đến tận nửa khuya.

Hai Thìn được nhập hộ khẩu chính thức từ năm 1980 sau khi anh tiếp xúc với ông Ba Tê và đề nghị được ủng hộ. Ông Ba Tê đã vận động các đảng viên khác trong chi bộ ủng hộ mình đấu tranh với Sáu Thế hàng nửa năm mới buộc chủ tịch xã nhận những sai sót. Anh ta cầu cứu thầy mình là Năm Hường bấy giờ đã lăm le chức vụ phó chủ tịch huyện. Năm Hường vận động rút Sáu Thế về huyện chạy cho anh ta cái chức trưởng phòng kế hoạch ngân hàng huyện. Sáu Thế rời khỏi xã Đại Dương tuyên bố:

- Chỉ trừ vua biển là người đã có ơn cứu tử còn đối với mọi người nơi đây Sáu Thế này vẫn là vua! Rồi mọi người sẽ thấy tôi làm vua thế nào!

Vua Sáu Thế đã chứng minh lời tuyên bố của mình. Với chức vụ trưởng phòng kế hoạch ngân hàng anh ta có quyền xét duyệt cho vay vốn đầu tư đóng thuyền đi biển của ngư dân trong tập đoàn đánh cá. Hai Thìn được bầu làm tập đoàn trưởng thay thế Mười Hòa từ trước ngày gia đình anh được nhập hộ khẩu. Anh đã xóa bỏ hẳn cách sản xuất kéo cờ đánh trống đi từng đoàn thuyền ra khơi thi đua đánh bắt mà sản lượng chẳng bao nhiêu như trước kia. Anh chia tập đoàn thành nhiều tổ và giao khoán cho mỗi tổ tự quyết định việc đánh bắt: thời gian ngư trường số thuyền ra khơi mỗi chuyến. Đích thân anh cũng nhận quản lý một tổ. Cách làm này không được công nhận chính thức nhưng cũng không ai ngăn cản vì đem lại hiệu quả rõ rệt: sản lượng đánh bắt được đã tăng hơn hẳn trước đây. Nhưng nó cũng tạo thuận lợi cho Sáu Thế. Các tổ đánh bắt được quyền tự liên hệ vay vốn ngân hàng tập đoàn chỉ chứng nhận chứ không can thiệp vào các điều kiện cụ thể. Sáu Thế được quyền "làm vua" với những ai anh ta không phải kiêng dè.

Đêm trăng này Hai Thìn mừng tân gia. Đúng ra đó là căn nhà cũ của anh anh mới mua lại với một giá đắt và sửa sang khang trang hơn. Vua biển đi biển đôi ba năm lại có tiền sắm sửa. Việc đầu tiên cũng là việc anh cho là danh dự là mua lại căn nhà cũ của mình. Anh chỉ mời những người khách chọn lọc tiếc rằng họ lại không có mặt đủ tại phòng khách nhà anh. Tòng Út không đến được chỉ với lý do "Tao buồn lắm ". Lúc trăng lên đỏ quạch Hai Thìn cho con gái qua mời lần nữa thì anh ta đã đi đâu vắng nhà. Vợ Mười Hòa lẽ ra vừa là khách vừa là một đầu bếp phụ với Lài lại cáo bệnh. Năm Mộc bây giờ chẳng còn làm việc ở ủy ban xã trở về cuộc sống một ngư dân Hai Thìn không cố chấp vẫn mời nhưng ông ta không đến chỉ cho con gái đi phụ bếp.

Những người khách chính có ông già Bảy Ba Vui ông Ba Tê và đương kim chủ tịch xã Tài Nguyễn. Hai Thìn rót rượu loại rượu đặc biệt do ông già Bảy nấu trong veo mà lại sánh như mật mời khách cụng ly khai mạc bữa tiệc.

- Tôi đề nghị mọi người ăn uống hết mình chuyện cũ chuyện mới cứ nói thoải mái chỉ yêu cầu không tranh luận!

Bàn tiệc ê hề món ăn miền biển. Rượu rót trong một cái ly cối. Theo đúng lệ cả bàn chỉ có một cái ly nhỏ xoay tua. Đến lượt ai người ấy phải tự múc rượu trong ly cối coi sao được uống rồi mới gắp. Câu chuyện rôm rả ồn ào...

Gió biển từ ngoài khơi được tin bay đến tận nhà Hai Thìn để chia vui cùng vua biển. Rừng phi lao đứng chờ gió biển trở về kể chuyện. Chuyện không ít. Gió biển phải lưu lại khá lâu. Chẳng ai lưu ý sự có mặt của nó trừ con ó lửa đứng ở góc phòng. Gió biển cố ghi nhớ để còn kể lại cho rừng phi lao nghe...

Chủ tịch xã Tài Nguyễn tên thật là Tài họ Nguyễn bà con gọi vậy để phân biệt với một người khác cũng cùng trang lứa cùng tên Tài họ Trần. Anh là học sinh mới lớn sau giải phóng. Bà con làng biển Cát đã vun đắp cho anh từng bước từ hội thanh niên giải phóng tới đoàn viên tới Bí thư đoàn rồi lại gởi anh đi học một khóa lý luận trung cấp lấy cái bằng đỏ trở về. Mọi người dồn phiếu để anh vào hội đồng nhân dân lại vận động hội đồng bầu anh làm Chủ tịch. Là chủ tịch xã anh tự thấy mình phải phát biểu trước:

- Phải nói là tôi được may mắn được các bác các chú các anh chị bà con trong xã và đặc biệt trong làng biển Cát này ủng hộ nên mới có ngày nay. Xã ta như vậy là đủ các mô hình kinh tế: Sở Dừa thì là kinh tế vườn làng biển Cát thì là kinh tế biển ấp Đoàn Kết thì là kinh tế rừng. Phải nói là hết sức đa dạng. Riêng tại làng biền Cát ta tôi tin cậy nơi tài ba đởm lược của chú Hai Thìn. Chỉ có chú mới dìu dắt tập đoàn đi lên thắng lợi giòn giã. Mới đây tôi đã giới thiệu thành tích của tập đoàn với lãnh đạo huyện phải nói là các anh trên huyện rất phấn khởi các ảnh hứa sẽ đề nghị trên xét tặng tập đoàn ta huân chương lao động ghi tên chú Hai Thìn vô danh sách những người sản xuất giỏi của huyện nhà. Phải nói là bà con làng biển Cát ta rất tự hào... Xin mời xin nâng ly chúc mừng thành tích của bà con ta...

Ông già Bảy sửa cái búi tóc trước khi nói:

 - Qua chẳng phải mượn rượu mới dám nói ra mà tiện đây thì nói vậy thôi. Chú em chủ tịch mày được bà con đưa ra mần việc đỡ hơn hồi Sáu Thế nhiều. Nhưng cũng còn nhiều điều bà con chưa ưng ý nổi. Nói gần nói xa chẳng qua nói thiệt chuyện ngôi đình làng mình đó mà. Hồi Sáu Thế qua đã làm đơn xin lại cho bà con có chỗ thờ cúng tổ tiên. Đơn bị ém. Chính chú em chủ tịch mày cũng có nhận được cái đơn mới viết của qua đây sao vẫn lặng thinh. Chú em chủ tịch mày nghĩ kỹ đi đình làng ta thờ Ba Ông là ba người sáng lập ra cái làng này đâu phải kẻ ngoại bang đâu phải phường phản quốc mà bà con không được phép thờ cúng. Qua rất buồn khi thấy nơi tôn nghiêm đó người ta đem hàng quán tới bán buôn ăn gian nói dối...

Ba Vui đỡ lời cho Tài Nguyễn:

- Ông Bảy đã nói vậy chắc thế nào rồi Tài Nguyễn nó cho họp xét giải quyết. Việc nhà nước đâu phải chỉ có chuyện đó cứ phải lần lượt mà giải quyết...

Tài Nguyễn gật gù:

- Anh Ba nói vậy là anh Ba rất hiểu tụi tôi. Phải nói là tụi tôi làm dâu trăm họ...            

Hai Thìn không góp chuyện. Anh đóng vai chủ xị kiểm tra từng người không để ai qua tua. Những ly rượu lần lượt tới tay mỗi người rồi trở lại. Giống như những buồn vui đến rồi đi trong đời mỗi người trong đời Hai Thìn. Tiền bạc đã một thời thừa thãi trong tay anh lại một thời anh trắng tay đếm từng củ mì luộc nhường cho vợ con bây giờ nó lại đến với anh. Đôi tay anh đã làm ra nó nên chỉ có đôi tay là thuộc về anh vĩnh viễn. Tiền cái phương tiện không thể thiếu trong đời sống là cái luân chuyển không bền. Anh muốn sử dụng nó cách tốt nhất. Nhưng anh sẽ làm gì? Hai Thìn bỏ đũa xé gói thuốc ba số 5 lật mảnh giấy gấp phía phải nắp hộp thuốc thấy con số 8. Anh nhẩm đếm lấy điếu thuốc thứ tám mồi lửa hút. Chẳng hiểu những con số ghi dưới nắp hộp thuốc ấy có ý nghĩa gì chỉ thứ tự điếu thuốc ngon nhất? hay chỉ là con số của một trò hên xui? Anh chẳng cần xác định anh hiểu cái ý nghĩa của riêng mình: nó là điếu thuốc duy nhất anh nên hút còn lại là phần của những người chung quanh. Như những gì anh có chẳng nên giữ riêng một mình...

Ông Ba Tê chỉ góp chuyện lúc tiệc sắp tàn:

- Ăn cơm mới nói chuyện cũ. Sáu Thế nó sẽ giận có khi là thù tôi suốt đời. Do tôi mà nó phải đi khỏi xã này. Tôi chẳng hề ân hận. Làm cái anh đảng viên hưu sẽ vô dụng lắm nếu không tham dự vào việc đấu tranh sửa sai cho đồng chí của mình. Chỉ không tránh nổi đôi lúc rất buồn bỗng dưng mình thêm thù bớt bạn... Nóí vậy chắc Tài Nguyễn hiểu lòng tôi. Mong sao giữa chúng ta không xảy ra điều gì đáng tiếc. Nên nghe ngóng ý dân Tài Nguyễn ạ...

Ở phòng trong ba người phụ nữ ăn một món không dọn ra phòng ngoài món cháo chem chép. Họ vừa ăn vừa thủ thỉ những câu chuyện đàn bà. Và không quên lắng nghe cả chuyện của những người đàn ông phía bên kia vách đặc biệt là những lời bình phẩm về các món ăn.

Cô con gái ông già Bảy người làm món ốc leng hấp dừa lấy làm tiếc không có Tòng Út trong số thực khách. Người đàn ông đáng thương ấy đôi khi Út tự hỏi phải chăng còn là đáng yêu. Đã bao lần cô bắt gặp cái nhìn lạ thường của anh ta dành cho mình. Phải những ánh mắt không bình thường và đầy mặc cảm đã khiến lòng cô xao xuyến. Giá như Tòng Út là một người đàn ông bình thường như bao người đàn ông khác...

Lài và Tám thì thầm bên tai nhau một câu chuyện đàn bà. Tám kể xấu chồng một anh chồng tham lam cuồng nhiệt mới có đứa con trai lại đòi có thêm đứa nữa cũng phải là trai để sau này nhà có nhiều tay đi biển. Lài nghe gợn trong lòng mình một điều lo lắng lại một hy vọng vui hơn... Chị đang có thai chị sẽ sinh cho chồng một đứa con trai như anh ao ước chứ?

Trăng lên cao ánh trăng sáng vằng vặc. Gió biển bỏ ra kể chuyện với rừng phi lao đã một lúc. Khách lần lượt ra về người trước kẻ sau. Khi Lài tiễn người khách cuối cùng là cô Út ra về quay lại phòng khách chị thấy Hai Thìn ngồi trầm ngâm một mình trước bàn tiệc. Dạo này anh vẫn thế. Anh có vẻ suy tư nhiều về cuộc sống hay nói với chị về những dự định chi tiêu. Anh ít nói đùa và cũng bớt nóng nảy. Đang có những gì xáo động lòng anh?

Đột nhiên có tiếng khèn khẹt của con ó lửa. Hai Thìn ngẩng lên nói với vợ:

- Bậy quá! Anh quên bẵng người bạn nhỏ của mình. Chắc là nó đói lắm rồi...

Lài nhìn chồng cho con ó lửa ăn. Chẳng hiểu sao chị lại nói:

- Lần này nhất định em sẽ sinh cho anh một đứa con trai...

 

BA

Lại thêm một đêm trăng đến với vợ Mười Hòa. Chị đành cáo bệnh không thể đến chia vui với vợ chồng Hai Thìn. Đành vậy thôi! Làm sao chị có thể đi được?

Vợ Mười Hòa gọi đêm đó là đêm trăng thứ nhất. Từ lúc xế chiều đêm trăng đó bỗng dưng chị nghe trong người bứt rứt đầu nhức như búa bổ người hâm hấp nóng như sốt. Chị ra tiệm tạp hoá mua hai viên thuốc cảm uống trước một viên viên còn lại để tới khuya sẽ uống. Chị chưa thể hiểu được chuyện gì sẽ xảy đến với mình. Đứa con gái lớn dọn cơm hơi trễ một chút có đáng gì vậy mà chị cũng nổi nóng xáng con một bạt tai làm con nhỏ bưng mặt tấm tức khóc. Ngồi ăn cơm với ba đứa con nhìn thằng con trai chị thấy nhớ chồng da diết. Càng lớn nó càng giống Mười Hòa như lột. Nó nhìn má lấm lét sợ bị đòn oan như chị. Vợ Mười Hòa nhìn con chị bắt đầu phát hiện ra rằng trong cái bứt rứt khó chịu từ chiều của mình có cả cái cảm giác của một người đàn bà lâu ngày thiếu bàn tay âu yếm của đàn ông. Thật đáng xấu hổ. Mười Hòa mất đã lâu rồi chị hầu như đã quên đi vậy mà bây giờ chị lại thèm muốn được chung đụng xác thịt với chồng. Chị muốn nguyền rủa mình là một con đàn bà hư đốn.

Trăng lên đỏ quạch vợ Mười Hòa cũng bắt đầu thấy khó chịu hơn. Chẳng phải là chị cảm sốt rồi mà rất rõ chị đang thèm muốn đàn ông. Chị ra sau nhà dội nước ào ào mong làm tan đi ngọn lửa đang âm ỉ cháy trong cơ thể mình. Chị vào giường ôm đứa con gái nhỏ mà tưởng tượng đang ôm cái thân hình cường tráng của chồng. Ngọn lửa lạ lùng vẫn bốc cao. Chị lại phải bỏ ra khỏi nhà đi lang thang ra phố. Những bước chân vô định đưa chị đến những đâu chị không rõ. Chỉ biết khi chị dừng lại ngồi dưới một gốc dừa đầy bóng tối có một người đàn ông lạ mặt say rượu tới gần lè nhè hỏi chị: "Đi không em hai? Bao nhiêu tiền một nói đi!". Khi đó chị mới giật mình biết là mình đã lang thang như kẻ bệnh mộng du. Chị có cảm giác mình bị hút chặt vào da thịt người đàn ông say khi gã liều lĩnh vòng tay ôm lấy chị. Còn may là lý trí đã giúp chị phản ứng kịp thời. Chị xô gã kia ra vùng chạy. Lúc ấy trăng đã lên khá cao sáng vằng vặc.

Đêm trăng thứ hai. Vợ Mười Hòa vừa chờ đợi vừa mong sao cái chuyện kỳ lạ kia đừng đến. Vẫn là cái mặt trăng vừa lên đỏ quạch báo hiệu ngọn lửa bắt đầu ngầm cháy bùng trong chị. Chị dội nước ào ào. Chị chạy băng ra biển ngâm mình xuống biển. Ngọn lửa vẫn hừng hực cháy. Chị ôm ngực bộ ngực vẫn vun đầy dù chị đã bước vào tuổi bốn mươi sáu. Như là có một lúc chị đã lăn lộn trên bãi cát mà chịu đựng cơn thèm muốn của xác thịt. Nước mắt chị ứa ra. Hai lần đã đủ cho chị hiểu mình đã bị tai họa gì.

Người làng biển Cát gọi cơn bệnh của vợ Mười Hòa đang mắc là bệnh trời hành. Lâu lắm rồi trong làng mới có thêm một người mắc bệnh. Người mắc bệnh trước chị là một bà cũng ngoài bốn mươi chồng bỏ đi chung sống với vợ bé ở Sài Gòn. Đầu tiên bà ta cũng cố gắng chịu đựng giấu giếm mọi người. Tới một lần không thể chịu đựng được nữa bà ta gọi một đứa trai tân đến nhà mình để cho nó tự do làm gì thì làm rồi cho nó một ít tiền để nó kín miệng. Thằng con trai kia không giấu được điều bí mật. Chuyện vỡ lở người đàn bà xấu số bị làng xóm cười chê hoá ra lì lợm. Từ đó mỗi tháng khi lên cơn bệnh bà ta công khai gọi một người đàn ông đến với mình. Xong xuôi bà ta cấu xé đánh đập chửi rủa kẻ vừa chung đụng với mình như một kẻ thù và trả cho một số tiền! Cứ thế người đàn bà ấy trở thành một người để mọi người bêu riếu mỗi tháng một lần cần một người đàn ông mỗi tháng một đau khổ hơn người ốm yếu hẳn rồi bà ta nằm liệt giường nhắm mắt sau một cơn vật vã...

Đêm trăng thứ hai vợ Mười Hòa vẫn kéo dài sự chịu đựng của mình tới khi trăng lên cao nhất sáng vằng vặc...

Đêm nay lại một đêm trăng đến ...

Vợ Mười Hòa bỏ nhà đi lang thang ngoài bãi biển. Đêm bãi biển vắng tanh lặng thinh. Nơi khu nhà của bà con miền Trung vào có dăm ba ánh đèn khi mờ khi tỏ. Chị đi qua khu nhà đi mãi tới gần cuối rừng cây nơi có bãi đá như bầy gấu tắm. Chị ôm ngực bước loạng choạng như một người say. Giờ này nhà Hai Thìn đang đãi tiệc. Chắc vợ chồng Lài trách chị sao không đến. Làm sao chị đến cho được. Cơn sốt đến với chị rồi. Mặt trăng đỏ quạch ngang tầm mắt. Chị tạt vào một khu rừng ôm lấy một gốc cây phi lao gục đầu mà khóc. Chị sẽ đứng thế này mà chịu đựng cho đến khi trăng lên đỉnh đầu sáng vằng vặc...

Đột nhiên có tiếng người cất lên:

- Đứa nào đứng đó hả?

Vợ Mười Hòa nhận ngay ra tiếng Năm Mộc. Chị rùng mình sợ hãi khi nghĩ đến một điều. Chị cố hết sức tự trấn tĩnh để trả lời:

- Tui! Mười Hòa đây anh Năm!

Năm Mộc vẫn đứng nơi bìa rừng lại hỏi:

- Mười Hòa hả? Thím làm gì ở đây giờ này hả?

Vợ Mười Hòa ứa nước mắt. Trời đang đày đọa chị. Ngọn lửa cháy nóng như thiêu. Chị cắn răng mặc cho Năm Mộc hốt hoảng hỏi dồn:

- Sao vậy? Chuyện chi vậy thím Mười?

Ông ta chạy vào đến bên vợ Mười Hòa lay vai chị mà hỏi:

- Sao vậy? Sao vậy thím Mười?

Người đàn bà lắc đầu cố nói trong nước mắt giàn dụa mặt:

 - Anh Năm! Tui van anh anh về đi... anh cứ để mặc tui...

 Bên tai chị nghe tiếng Năm Mộc lắp bắp:

 - Bộ... bộ... bộ thím bị cái bệnh... cái bệnh trời hành ấy hả? Hả? Thím Mười?

Vợ Mười Hòa lại gục đầu nơi thân cây phi lao sù sì thoảng mùi nhựa khó chịu. Chị không nghe tiếng Năm Mộc nói nữa. Có lẽ ông ta đã bỏ đi rồi. Chị hé mắt nhìn lên bầu trời đêm. Trăng vẫn chưa lên cao trong cái màu vàng sữa của ánh trăng đang rọi xuống len lách qua những tàn cây phi lao chị thấy một cái đầu hói ở sát bên mình đôi mắt của nó chiếu ra tia nhìn khát vọng...

 

(Xem tiếp LNHTN 06)

In NXB Thanh Niên (lần 1 năm 1989 tái bản năm 2004) & NXB Đồng Nai (tái bản năm 1995)

 

le huy mau

@ KV!
Chào KV! LHM cũng có weblogs rồi nhé! nhớ ghé thăm!