Tiểu thuyết LỜI NGUYỀN 200 NĂM (7)

LỜI NGUYỀN HAI TRĂM NĂM

Tiểu thuyết của KHÔI VŨ

(Giải thưởng Hội Nhà văn 1989-1990)

 

LNHTN 07

BA

Biển vừa êm lại động. Lần này thì mưa rừng ào kéo ra khơi. Mây đen kịt bầu trời. Cứ như là sau lần biển động trước do biển cả gây chiến mà lần này Thần rừng nổi giận trả thù. Mưa như trút nước cả ngày trời.

Hai Thìn dự hội nghị về đến làng biển Cát vừa khi cơn mưa rừng bắt đầu rơi. Mưa lớn dần nỗi lo trong lòng anh cũng lớn dần. Đoàn thuyền đánh cá của Ba Vui ở ngoài khơi chưa về không biết sẽ ra sao. Vợ con những người đi biển đang lênh đênh ngoài khơi kéo đến nhà Hai Thìn trút thêm nỗi lo lên vai anh. Tám đến kề chuyện cô đối xử với chồng rồi khóc thố lộ ý nghĩ của cô: chẳng lẽ đó là điềm báo trước một chuyện không may xảy ra với Ba Vui?

Hai Thìn dầm mưa ra bãi biển. Anh chẳng thể thấy gì ngoài khơi mù mịt mưa rơi. Mà cũng chẳng có dù một cái chấm nhỏ của một chiếc thuyền đánh cá nào để anh trông thấy. Anh cố dập xóa đi những hình ảnh thê thảm hiện lên trong trí tưởng tượng của mình. Mà có phải đó chỉ là sự tưởng tượng không có căn cứ? Đau đớn thay nó rất gần với sự thực?

Không thấy đâu lũ gió biển. Chỉ có tiếng gió rừng gào rú lẫn tiếng mưa. Lũ sóng ven bờ thì không thể biết chuyện gì đang xảy ra ngoài trùng khơi. Hai Thìn trở thành kẻ cô đơn bên biển. Nhiều người trong làng cùng ra dầm mưa như anh nuôi hy vọng mỏng manh sẽ thấy bóng dáng mấy chiếc thuyền đánh cá hiện ra trong tầm mắt. Chủ tịch Tài Nguyễn cũng có mặt. Anh ta đến bên Hai Thìn nhìn anh và im lặng. Mọi người đều im lặng...

Biển vẫn động thêm một ngày nữa.

Ngày thứ ba mưa ngớt. Trời chuyển sang màu xám sáng dần lên. Mọi người lại ra bãi biển ngóng trông. Họ vẫn chẳng thấy gì. Buổi trưa qua đi. Buổi chiều qua đi...

Chiều hôm ấy Tài Nguyễn đi nhậu về chỉ kịp ọc ra những gì chưa kịp tiêu hóa trước khi buông mình trên võng nằm im lìm như chết. Vợ anh cằn nhằn chồng nhưng vẫn lặng lẽ thu dọn lấy mền đắp cho người say. Đến tối lúc trăng lên Tài Nguyễn mới tỉnh dậy. Lại đến đêm trăng tròn giữa tháng. Anh mở mắt ra nhìn ánh trăng vàng cảm thấy đầu nhức như búa bổ nắm tay đấm mạnh vào huyệt nhức đầu sau gáy mắt lại nhắm lại cố ngủ tiếp. Miệng anh khô như người khát nước nhiều ngày anh cũng chẳng gượng dậy nổi để tìm nước uống.

Bỗng có tiếng gọi cửa dồn dập. Giọng hốt hoảng của Hai Thìn:

- Tài Nguyễn! Có nhà không Tài Nguyễn? Khổ rồi xác bà con đi biển chuyến rồi bắt đầu trôi tắp vào bờ...

Tài Nguyễn bật dậy tỉnh rượu hẳn. Anh chạy vội ra mở cửa hỏi lại Hai Thìn một câu rồi tất tả cùng vua biển đi ra bãi biển.

... Năm Mộc chạy theo con gái muốn hụt hơi. Tám như người mất hồn mấy ngày nay ăn uống thất thường hay khóc than và xin chồng tha thứ. Cô chen lấn đám đông đến nhìn mặt từng cái xác tấp vào bãi biển. Không có Ba Vui không có chồng cô. Nhưng Tám vẫn ôm mặt khóc ngất. Đoàn thuyền đã bị nạn chẳng còn hy vọng gì nữa rồi.

Vợ Mười Hòa cũng có mặt trong đám đông. Cơn bệnh quái ác lại đến với chị từ lúc trăng lên. Như một con thiêu thân chị bỏ nhà chạy ra bãi biển hướng về phía rừng phi lao. Chính chị là người đầu tiên phát hiện ra mấy cái xác. Chị thét lên kêu cứu mọi người. Bà con ùa cả ra bãi biển. Những người nhận được xác chồng con khóc than vật vã thảm thiết. Làng xóm náo động. Công an du kích nhân viên y tế lần lượt kéo đến. Hai Thìn ra tới Tài Nguyễn ra tới...

Chẳng ai biết được chuyện gì đang xảy ra với vợ Mười Hòa. Chị chẳng biết mình nên phải làm gì. Đứng lại nơi đây với mọi người hay bỏ ra rừng phi lao mà chắc chắn nơi đó đã có mặt Năm Mộc. Chị vừa căm thù vừa cảm ơn con người đó. Chị vừa biện hộ vừa nguyền rủa mình. Có những lúc chị muốn tìm cách giải quyết khác: cương quyết không để cho Năm Mộc lợi dụng chịu đựng cơn hành xác quái gở hay là tìm một người đàn ông nào đó đi bước nữa. Đau đớn thay chị chỉ nghĩ chứ không quyết định được. Trăng đang lên. Đằng xa kia là Năm Mộc cùng con gái. Vợ Mười Hòa quay mặt đi để không nhìn thấy kẻ lợi dụng mình nhưng chị không dứt bỏ được cái cảm giác Năm Mộc là cục nam châm còn mình là một miếng sắt chỉ yếu đuối một chút một chút thôi là chị tức khắc bị hút bay về phía đó.

Tám nhận ra vợ Mười Hòa. Cô chạy lại bên người phụ nữ ấy. Ngày nào chính cô đã an ủi vợ Mười Hòa đừng quá bi thảm trước cảnh tử biệt bây giờ đến lượt cô. Tám ôm lấy vợ Mười Hòa gục đầu vào vai chị mà khóc. Vợ Mười Hòa vuốt tóc cô ôm bờ vai đang thổn thức của cô mà an ủi. Trăng lên vẫn chưa tới đỉnh đầu. Nhưng khác hẳn với những lần khác ôm Tám trong tay mình vợ Mười Hòa thấy cơn thèm muốn cồn cào trong mình bỗng dưng nguội lạnh hết hẳn. Chị nhìn Năm Mộc đứng xớ rớ gần đó thấy ông ta không còn là cục nam châm nữa ông ta chỉ còn là con rắn độc cần xa lánh...

Hai Thìn đứng tách khỏi đám đông nhìn ra biển buồn rười rượi. Gió biển thổi rất nhẹ nói với anh: "Vua biển đừng trách Biển cả nhé! Không phải lỗi của Biển cả đâu. Mưa rừng kéo ra khơi gây chiến. Còn những chiếc thuyền thì quá nhỏ bé giữa trùng dương..."

 

NĂM 1925 

CHA VÀ CON

Năm 1908 ở khu vực đồn điền sát làng biển Cát xuất hiện một thương nhân người Pháp lai Anh. Y tên là Jean Dupuis 32 tuổi. Jean vừa được hưởng gia tài của bà mẹ người Anh để lại bèn sử dụng số tiền đó đi ngao du sơn thủy phương Đông có ý định sẽ dừng chân lập nghiệp ở nơi nào ưng ý. Y vào nước ta từ cửa biển Vũng Tàu. Lên đất liền y có ghé vài nơi đô hội nhưng không thích thú lắm. Bước phiêu lãng đưa Jean đến khu đồn điền sát làng biển Cát. Phong cảnh và khí hậu của một vùng rừng nhiệt đới khá đặc biệt ở nơi đây đã quyến rũ y. Trong thư viết gửi cha mình ở Pháp Jean viết :

 ... Đây là một vùng rừng châu Á rất đặc biệt. Rừng hoang sơ chưa bị tàn phá lấn ra tận ven biển. Ngược lại cát biển có mặt ở sâu trong rừng hàng kilômét. Khí hậu vừa là khí hậu lục địa vừa là khí hậu đại dương. Theo tôi được biết rừng sát biển là một loại rừng hiếm trên thế giới. Tôi muốn chọn nơi đây để lập nghiệp hy vọng sẽ làm giàu ...
 

Jean Dupuis đến gặp chủ tỉnh một tên Pháp tính tình hào phóng để đề nghị được quyền lập đồn điền trồng dừa trong một khu vực rộng lớn quanh khu đồn điền cũ bao gồm cả làng biển Cát. Trước hết y cho xây một tòa biệt thự để ở và mấy dãy nhà rộng cho công nhân. Y thông báo mộ phu trồng dừa nhận cả người Kinh lẫn người dân tộc. Hàng trăm người ở khu đồn điền cũ ở làng biển Cát một số ít người dân tộc sống trong rừng đã trở thành phu trồng dừa cho Jean. Y đặt tên khu vực mình quản lý là xã Dupuis. Những người phu không rành tiếng Pháp nói với nhau cái tên đó bằng phiên âm sai dần đi thành cái tên Việt là Phú Quý! Jean biết chuyện cười hà hà thú vị ...

Năm 1910 thầy thông Châu Toàn bốn mươi lăm tuổi mới quyết định chấm dứt những năm tháng ăn chơi phóng đãng của mình để cưới vợ. Ông về làng biển Cát lấy một cô gái họ Nguyễn kém mình hai mươi tuổi vừa đoạn tang chồng một ngư dân bị mất tích trong chuyến đi biển xa. Với Châu Toàn cuộc hôn nhân này là kết quả của một tình yêu bất ngờ khi ông gặp cô gái họ Nguyễn ra cúng đình làng. Cô không đẹp bằng nhiều người con gái từng đi qua đời ông cô chỉ có nét buồn nơi đôi mắt quyến rũ ông một người đã quá chán ngán cuộc sống vô định một thời. Cô gái nhận lời cầu hôn của Châu Toàn. Nhưng cả hai bên gia đình ông và cô gái đều không đồng ý. Một bên cho rằng cô gái đã có một đời chồng lại quá ít tuổi so với Châu Toàn. Bên kia thì chê Châu Toàn là người hư hỏng. ảôi nam nữ bất chấp ý kiến của gia đình tự ý chung sống. Trong lịch sử làng biển Cát đây là cuộc hôn nhân duy nhất không được tổ chức lễ cưới và không được hai gia đình cùng làng mạc công nhận. Ít lâu sau ngày chung sống Châu Toàn xin được việc làm dưới quyền Jean Dupuis. Hai vợ chồng dọn qua đồn điền ở với chủ. Jean rất mừng vì có Châu Toàn. Ông vừa là thông ngôn vừa là thầy dạy tiếng Việt cho y. Y giao cho ông cả việc phát lương cho phu trồng dừa. Ông mau chóng trở thành người thân tín của tên chủ Pháp.

Châu Toàn là một người từng trải đã nhiều năm làm việc với Pháp nên rất hiểu tâm lý của những tên thực dân thống trị. Ông giới thiệu một cô gái Việt để Jean cưới làm vợ. Khi vợ ông sinh đứa con đầu lòng ông liền lấy cái tên Phú Quý đọc trại tên của chủ đặt cho con mình.

Jean rất hài lòng càng tin dùng Châu Toàn hơn.

Phú Quý không có em. Suốt mười lăm năm của tuổi thiếu niên cậu rất mong chờ một đứa em nhưng điều mong chờ ấy chỉ là những tia hy vọng lóe lên rồi lại tắt. Ba lần mẹ cậu đã có thai thì hai lần bị sảy thai một lần sinh con gái nhưng đứa bé chỉ sống được non tháng. Phú Quý được cả cha mẹ và ông chủ Jean yêu thương lo lắng. Đến tuổi đi học Châu Toàn gởi con ra huyện học cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp. Phú Quý thông minh chỉ phải nết bướng bỉnh. Cậu đã nghĩ đã quyết điều gì thì khó ai lay chuyển nổi. Tính nết ấy đã gây ra sự xung khắc giữa hai cha con nhất là về những ứng xử không bình thường của người cha.

Lần phát lương đó nhân có Phú Quý về chơi Châu Toàn nhờ con đọc số lương để ông phát tiền. ảến lượt một người phu dân tộc Phú Quý thấy cha cậu phát tiền lẻ tổng cộng chỉ bằng nửa số tiền trong sổ sách. Cậu thắc mắc đợi khi xong việc mới hỏi cha:

- Vì sao cha lại bớt của ông ta?

Châu Toàn giải thích:

- Con thử nhớ lại xem nào có phải lúc nhận số tiền lẻ ta trao ông ta hớn hở ra mặt không?

- Vâng con nhớ rồi. Nhưng con không hiểu.

- Đơn giản thôi. Ông ta thấy số lượng đồng tiền mình được nhận nhiều hơn của những người khác nên vui mừng. Người dân tộc họ khờ thế đấy. Họ chỉ biết đếm số lượng chứ không biết giá trị đồng tiền. Ta chẳng dại gì không bớt tiền của họ lấy về phần mình.

- Con nghĩ đó là một việc làm xấu.

- Con còn nhỏ sao hiểu hết lẽ tranh sống ở đời. Con đừng nên thắc mắc nữa.

- Cha cho con đi học là để biết phân biệt phải trái tốt xấu. Sao cha lại nói vậy?

Châu Toàn cáu kỉnh quát:

- Câm miệng đi thằng oắt con! Tao cấm mày chen vào việc người lớn nghe chưa?

Phú Quý không dám cãi lời cha nhưng lòng cậu không hề phục ông về chuyện này.

Mười lăm tuổi Phú Quý đậu bằng Certificat. Châu Toàn vui mừng mở tiệc ăn mừng mời ông chủ Jean làm chủ tọa. Hôm sau ông dẫn con ra đình thờ Ba Ông bảo cúng lễ rồi kể cho Phú Quý nghe chuyện tổ tiên mình. Ông kết luận:

- Con thấy chưa dòng họ ta chẳng may phải chịu lời nguyền kia đời nào cũng phải làm ác làm xấu mới sinh được con trai nối dõi. Bằng tuổi con được biết điều đó ta đã sớm chọn cho mình cách sống phù hợp. Ở trên đời chẳng có gì hạnh phúc bằng được làm mọi điều mình thích dù để được như thế phải hại người hoặc khiến người chịu thiệt. Ta cho đó là lẽ tranh sống bình thường của con người...

Phú Quý không dám cãi lời cha nhưng cậu hoàn toàn không đồng ý với cha mình. Cậu không tin những gì đã xảy ra trong dòng họ mình là sự ứng nghiệm của lời nguyền. Ông Gia Trí phản bội vì mưu cầu cuộc sống an nhàn cha cậu sống phóng túng là do ông chủ trương cách sống đó. Cả hai đều ý thức việc mình làm sao có thể bảo là bởi lời nguyền ứng nghiệm. Cậu tự bảo mình sẽ sống khác hơn cha...

Mùa xuân năm 1926 Châu Toàn lâm bệnh nặng rồi mất. Phú Quý về đồn điền lo việc mai táng cho cha rồi bàn với mẹ dọn về ở làng biển Cát. Làng biển Cát bấy lâu nay không chấp nhận vợ chồng Châu Toàn bây giờ lại sẵn sàng cưu mang mẹ con Phú Quý nhất là cậu bé mười sáu tuổi đã được mọi người khen là một chàng trai tốt bụng.

Phong trào chống Pháp nhiều năm qua đã nổi lên khắp nơi. Nhiều cuộc kháng chiến bị thất bại nhưng tiếng vang của nó vẫn có tác dụng cổ súy lòng yêu nước căm thù giặc của mọi người... Sống trong đồn điền của chủ Pháp Phú Quý hiểu rõ những  thủ đoạn bóc lột và lòng tham không đáy của kẻ thực dân. Rời bỏ nơi ấy là một phản ứng của cậu. Chưa hết cậu còn giúp những người phu trồng dừa cả người Kinh lẫn người dân tộc đấu tranh với Jean Dupuis. Gã chủ đồn điền biết chuyện mắng Phú Quý là đứa vô ơn tìm cách hãm hại cậu.

Một hôm bọn chức việc đến nhà Phú Quý đòi bắt cậu giải lên huyện vì cậu bị tình nghi tham gia một tổ chức chống chính quyền thực dân. Mặc lời van xin của người mẹ chúng vẫn trói Phú Quý lại dẫn đi. Cậu an ủi mẹ:

- Mẹ cứ yên tâm. Con bị hàm oan thế nào cũng sẽ được thả về.

Trong ngục giam ở huyện cậu trai trẻ quen với một ông người tù có học thông minh. Biết chuyện cậu ông ta không ngần ngại rủ cậu tham gia tổ chức của mình. Phú Quý nhận lời và được ông ta đặt cho một cái tên khác: Hai xung phong!

Hai người mưu chuyện vượt ngục.

                  

NĂM  1985 

VỤ NGÔI ĐÌNH THỜ BA ÔNG 

MỘT

                                                     

ĐƠN XIN LẠI ĐÌNH LÀNG

Kính gửi: - UBND Huyện Ủy ban MTTQ Huyện.

                - UBND Xã Đại Dương Ủy ban MTTQ Xã Đại Dương.

Chúng tôi là đại diện bà con làng biển Cát xin đệ trình quý ủy ban các cấp nguyện vọng sau đây:

Nguyên làng biển Cát chúng tôi có một ngôi đình xây dựng từ năm 1880 do dân làng chung công góp của làm nên. Ngôi đình thờ Ba Ông tức ba ông họ Lê họ Nguyễn và họ Trần đã sáng lập nên làng biển Cát chớ chẳng phải kẻ ngoại bang hay kẻ có tội với đất nước.

Năm 1975 sau giải phóng được vài tháng ông bí thư xã lúc ấy là Năm Hường đã ra lệnh tịch thu ngôi đình để sử dụng việc công. Đến thời ông chủ tịch Sáu Thế ngôi đình được chuyển giao cho phòng văn hóa thông tin xã quản lý tổ chức được một vài hoạt động văn hóa như ca nhạc chiếu phim rồi thôi và cho tư nhân thầu bán nước giải khát. Hiện nay ngoài việc bán nước giải khát về đêm mặt bằng của ngôi đình bị cho thuê bán đồ nhậu nhiều hoạt động thiếu văn hóa đã diễn ra ở đây.

Bà con chúng tôi cạn nghĩ Ba Ông là tổ tiên chung của bà con là những người khai sơn phá thạch dựng nên làng này chúng tôi thờ cúng là hợp lý. Bởi vậy năm 1980 chúng tôi đã đệ đơn xin lại ngôi đình được Mặt trận Tổ quốc hứa nghiên cứu rồi êm luôn. Năm 1982 lại làm đơn lần nữa đồng kính gởi huyện. Xã cho gọi chúng tôi lên phê bình tại sao đưa đơn vượt cấp tức là coi thường chính quyền địa phương. Và lần đó cũng không giải quyết.

Nay chúng tôi lại làm lá đơn này kính gởi các cấp trong xã trên huyện cứu xét giải quyết cho bà con được tiếp nhận lại ngôi đình. Chúng tôi xin cam đoan sẽ tổ chức lễ lộc trong phạm vi pháp luật cho phép và sẵn sàng đóng góp các việc công ích với nhà nước.

Trong khi chờ đợi bà con làng biển Cát xin gởi đến các cấp địa phương lòng biết ơn.

Đại diện bà con làng biển Cát:

1. Lê Trung Hiếu (Hai Thìn)

2. Trần Văn Hanh (Tự Bảy)

3. .................................

 

HAI

Hai Thìn tới chòi tu của nhà sư Thích Huệ Mẫn lúc chiều tà. Cái chòi đúng nghĩa của nó: cột kèo bằng cây rừng mái tranh vách lá. Trong chòi bày biện đơn giản. Ở vách sau sát mái lá trang thờ có những bức ảnh Phật lồng trong khung kính trang trọng. Giữa chòi là cái sạp tre thấp trải chiếu hoa. Bên phải căn chòi kê một cái hàng mà chủ nhà sắm sẵn cho mình khi khuất bóng. Phía còn lại là cái giường đơn mùng buông sẵn.

Nhà sư Huệ Mẫn đội mũ ni mặc áo già lam đang đốt nhang thỉnh chuông gõ mõ đọc kinh chiều. Giọng đọc kinh của ông lầm rầm như lời cầu khẩn huyền bí. Gió rừng xào xạc. Trời hoàng hôn mà trong nhà đã chìm vào bóng tối le lói ánh đèn dầu vặn bấc nhỏ.

Hai Thìn đứng đợi ngoài cửa cho đến khi bên trong chòi dứt tiếng mõ và lời cầu kinh. Anh định chờ thêm ít phút cho chủ nhà thay trang phục xong mới vào. Nhưng như là đã biết có khách đợi chủ nhà lên tiếng:

- Ai đó? Mời vô đi!

Hai Thìn bước vào:

- Con đây ba.

Ông Hai xung phong trong lốt nhà sư cố giữ vẻ thản nhiên khi nhận ra khách là con trai mình:

- Ngồi xuống đi.

Cái sạp thấp vừa là nơi ngồi đọc kinh vừa là nơi tiếp khách của chủ nhà. Hai Thìn ngồi xuống quan sát căn chòi thử tìm một sự thay đổi nào đó nhưng không hề có. Ông Hai xung phong lên tiếng trước:

- Mày lại đến mời tao về ở chung với vợ chồng mày chắc?

- Dạ phải.

- Mày nói đi.

- Ngày xưa ba khuyên con nên cưới người yêu một người bạn con vì cô ta là con một gia đình đông con trai con đã từ chối vì làm như vậy con đã tranh giành người yêu của bạn. Con xin cưới Lài vì tình yêu của tụi con là có thật ba không đồng ý. Con tự lo việc cưới xin ở Sài Gòn rồi đưa vợ con về đây. Ba không nhận con dâu. Nhưng vợ con vẫn sống với con chung thủy với con chấp nhận cuộc sống một người dân miền biển hẻo lánh thay cho cuộc sống tiện nghi ở Sài Gòn. Tụi con đã có với nhau ba mặt con. Chắc ba không còn cố chấp ba đã nhận vợ con là dâu?

- Đừng bắt tao phải trả lời. Mày cứ nói tiếp đi.

- Vợ chồng con tha thiết mời ba về ở chung một nhà. Tụi con ngày nay lại giàu có ba có thể sống ung dung nhàn hạ vẫn tu hành làm phước như trước nay. Ba về tụi con được trả hiếu tụi con mới yên tâm...

- Mày nói hết chưa?

- Dạ hết.

- Bây giờ tới tao nói. Chuyện sum họp một nhà sau sẽ tính. Chuyện quan trọng nhất đối với tao lúc này là mày phải có một đứa con trai. Ba đứa con vợ chồng mày có đều là gái. Rồi ai sẽ nối dõi họ Lê ta? Năm nay mày bao nhiêu tuổi? Bốn mươi lăm tuổi vài năm nữa đã đến tuổi tri thiên mệnh mày phải tính toán đi.

- Ý ba thế nào?

- Ta hãy trở lại chuyện ngày xưa. Chuyện cái lời nguyền oan khiên của viên tướng Tây Sơn. Ông Gia Trí phản bội chủ tướng mới có ông Châu Toàn ông Châu Toàn sống đời bất chấp mới có tao. Còn tao thuở nhỏ tao đã từng nói đó là những việc xấu được thực hiện với sự ý thức của từng ông không thể xem là sự ứng nghiệm của lời nguyền. Nhưng tới lượt tao có phải đâu tao chủ tâm làm chuyện xấu. Tao ân hận việc mình làm thí phát quy y đầu Phật. Nhưng tao cũng đã nghiệm ra mình chẳng thể cãi định mệnh. Cái lời nguyền ngày xưa đó đã trở thành định mệnh cuả những người đàn ông dòng họ ta. Mày là con tao mày đã quyết chống lại cái định mệnh đó mày từ chối mọi việc làm xấu. Nhưng mày đâu có thoát nổi định mệnh: mày vẫn chưa có một đứa con trai.

- Con còn sức khỏe vợ con còn sinh nở được tụi con vẫn còn hy vọng...

- Hy vọng ư? Chẳng bao giờ có được đâu. Trừ khi mày đồng ý làm một điều không tốt. Hãy nghĩ lại đi con ở đời này làm gì có con người toàn hảo...

- Con đồng ý với ba là không thể có con người toàn hảo. Nhưng đó là về mặt ứng xử là về mặt tính cách. Còn đối với lương tâm thì người ta ai cũng phải giữ cho nó được vẹn toàn...

- Mày vẫn chẳng thay đổi gì cả. Thì thôi câu chuyện của chúng ta nên chấm dứt ở đây.

- Ba có ý gì muốn nói với con chăng?

- Phải tao có một ý cứ nói cho mày nghe còn hành động thế nào tùy mày. Có phải mày đứng đầu đơn xin lại ngôi đình làng không? Đó là một việc làm tốt. Nhưng nếu bây giờ mày xin rút tên...

- Thưa ba con đã hiểu ý ba. Con thật không ngờ ba sẵn sàng đánh đổi chút quyền lợi riêng tư theo ba là sau đó con sẽ có hy vọng có một đứa con trai để từ bỏ một nguyện vọng của mọi người mà con chắc cũng là nguyện vọng của ba. Xin lỗi ba ba đã nói đúng. Giữa cha con ta vẫn chưa có cùng suy nghĩ câu chuyện hôm nay nên chấm dứt. Xin chào ba!

Hai Thìn đứng lên dứt khoát quay đi. Nhà sư Huệ Mẫn ngỡ ngàng không nói được lời nào cứ ngồi nguyên trên sạp mà nhìn theo cái bóng cao lớn của người con trai rời xa dần. Hai giọt nước mắt ứa ra lăn dài trên gương mặt khắc khổ của ông.
 

(Xem tiếp LNHTN 08)

In NXB Thanh Niên (lần 1 năm 1989 tái bản năm 2004) & NXB Đồng Nai (tái bản năm 1995)

 

Hoàng Lan

tiểu thuyết Lời nguyền 200 năm

cháu chào bác Khôi Vũ ạ. bác ơi cháu tên Lan hiện tại cháu đang là sinh viên năm 2 trường đại học Thủ Dầu Một- Bình Dương ,khoa Ngũ Văn, bác ơi hiện tại cháu đang làm đề tài nghiên cứu tác phẩm tiểu thuyết "Lời nguyền 200 năm" do bác viết, bác ơi bác có thể cho cháu liên lạc với bác để giúp cháu hiểu hơn về các tác phẩm của bác đực không ạ. cháu rất mong được bác đọc và giúp đỡ, cháu cảm ơn bác ạ.