Tiểu thuyết LỜI NGUYỀN 200 NĂM (8)

LỜI NGUYỀN HAI TRĂM NĂM

Tiểu thuyết của KHÔI VŨ

(Giải thưởng Hội Nhà văn 1989-1990)

 

LNHTN 08BIA 2 LN200N

 

BA

 

Tại trụ sở ủy ban xã Đại dương sáng ngày...

Người được mời: Ông Trần Văn Hanh tự Bảy 61 tuổi địa chỉ thường trú: làng biển Cát.

Người tiếp: chủ tịch xã Nguyễn Hữu Tài.

Cuộc đối thoại giữa hai người:

 

- Ông xác nhận chữ ký trong đơn là của ông chứ ông Bảy?

- Phải!

- Ai đã ép ông phải ký?

- Mày hỏi chi lạ vậy thằng em? Làm gì có chuyện có ai đó bắt ép qua phải ký!

- Ông Bảy xin nhắc ông đây là cơ quan chính quyền ông phải ăn nói lịch sự.

- Dạ! Tôi xin nghe lời ông chủ tịch (Giọng mỉa mai)

- Ông có biết chủ trương cải tạo đình thần của chính quyền ta không? Phải nói là bà con ta trải qua bao năm sống với bọn phong kiến bóc lột đã bị chúng tuyên truyền mê hoặc thành những người mê tín thờ cúng lung tung...

- Thưa ông chủ tịch chuyện đó thì có liên quan chi tới ngôi đình làng ta? Ông chủ tịch cũng là dân làng biển Cát chắc ông chủ tịch dư biết đình làng ta thờ cúng những ai...

- Nhưng địa phương ta cũng cần có một cơ sở văn hóa. Phải nói là nhu cầu văn hóa là nhu cầu không thể thiếu của mọi người nhất là ở vùng xa xôi hẻo lánh như địa phương ta. Bởi vậy chủ trương cải tạo đình thần thành các cơ sở văn hóa là cần thiết. Theo tôi được biết trong huyện ta phải nói là...

- Xin lỗi cho tôi ngắt lời ông chủ tịch. Ông chủ tịch mới nói chính quyền cải tạo đình thần thành cơ sở văn hóa. Nhưng bà con tụi tôi dốt nát không hiểu việc bán nước giải khát bán quán nhậu rồi chửi lộn đánh lộn có phải là sinh hoạt văn hóa hay không?

- Đó là những việc tạm thời trong khi chính quyền chưa đầu tư xong cho các hoạt động văn hóa chính thức như chiếu phim tổ chức ca nhạc... Mà thôi ta trở lại lá đơn. Qua nghiên cứu xã nghe ngóng được một dư luận cho rằng trong vụ này có những kẻ xấu cầm đầu xách động bà con...

- Nói láo! Chẳng có ai cầm đầu xách động cả ...

- Nè ông Bảy phải nói là ông đã già mà còn nóng tính lắm. Tôi nhắc ông: đây là cơ quan nhà nước ông phải ăn nói lịch sự. Người ta báo cáo với tôi các ông xin lại ngôi đình là để có nơi tổ chức lễ lạc thu góp tiền bạc của bà con mà chia chác nhau ăn nhậu ...

  - Cái gì? Ông chủ tịch... Nè... Tài Nguyễn... Mày ngó đi. Mở to mắt mà ngó coi tao còn mấy cái răng để ăn nhậu? Mày là thằng hư hỏng vô ơn. Bà con đưa mày ra làm việc hy vọng mày lo cho bà con. Vậy mà mày bội bạc coi thường bà con. Lương mày được bao nhiêu mà mày ăn nhậu thường xuyên ngày nào cũng bia cũng rượu mặt phệ ra bụng phì ra...

Chủ tịch xã đỏ bừng mặt đứng lên đập bàn:

- Ông Trần Văn Hanh. Tôi cảnh cáo ông lần thứ nhất. Nếu ông còn nói năng thiếu văn hóa thì...

Ông già Bảy cũng đứng lên nhổ toẹt một bãi nước miếng xuống đất rồi bỏ ra khỏi văn phòng ủy ban.

Những người có mặt nhìn nhau chờ đợi một hành động của chủ tịch xã. Nhưng Tài Nguyễn đã ngồi phịch xuống chống tay vào trán chán nản trước thất bại của mình...


 

BỐN

Năm Mộc đến nhà vợ Mười Hòa lúc mấy đứa con chị đi xóm cả. Vừa thấy mặt ông ta chị đã tím mặt lại vì giận. Chị nói luôn:

- Tui chẳng còn xu nào đâu ông về đi.

- ... về đi! Tôi đâu có hỏi tiền thím.

- Ông muốn... muốn cái chuyện kia hả? Đồ khốn nạn!

- Nè nhè nhẹ lời một chút nghen thím Mười. Kẻo rồi ân hận không kịp đó. Nghe tôi nói. Tôi tới để hỏi thím chuyện thím ký vô lá đơn xin lại ngôi đình. Thím có ký không?

- Có.

- Người ta sắp điều tra tới thím.

- Tôi mần chi mà phải diều tra?

- Người ta sẽ hỏi có phải thím là người cầm đầu không?

- Tui mà cầm đầu ai.

- Thì người ta sẽ hỏi tiếp vậy ai cầm đầu ai xúi biểu thím ký đơn?

- Tui tự ý ký.

- Thím không được trả lời như vậy. Thím phải nói: chính Hai Thìn đã cho tiền để thím ký đơn còn ông già Bảy thì hứa sẽ cho thím mở quán nơi sân đình nếu đình được trả...

- Vu oan giá họa cho người tui không làm được.

- Cho thím nghĩ một ngày. Nếu thím không nói theo ý tôi cái chuyện những đêm trăng sẽ được mọi người biết tường tận. Thím tính đi!

- Đồ rắn độc! Ông đúng là con rắn độc mà!

- Thì đã sao! Tôi về cho thím tính.

Năm Mộc bỏ về. Cái dáng gầy nhằng của ông ta lao về phía trước hung hăng đắc chí.

 

NĂM

Biển đêm. Bầu trời không trăng sao. Ngoài xa khơi có những ánh đèn măng sông của thuyền câu mực. Những ngày này ngư dân đi biển với nhiều hy vọng và an tâm trước sự bình yên của biển. Biển như thông cảm với những mất mát của dân làng biển Cát những ngày biển động đã qua ngày nào cũng trả lại cho những người vợ những đứa con chồng và cha của họ sau một chuyến đi khơi cùng cá tôm tươi ngon đầy hầm chứa trong thuyền. Biển đôi lúc trở thành kẻ thù của con người nhưng thường hơn biển là bạn của họ.

Đi dọc theo bãi cát đêm nay là hai người đàn ông. Người cao lớn có con ó biển đậu trên vai là Hai Thìn. Người vóc dáng trung bình bụng hơi phệ là chủ tịch xã Tài Nguyễn. Họ nói chuyện với nhau vẻ như hai người đang tâm tình. Thật ra họ đang trao đổi về một nội dung gay cấn.

Tài Nguyễn phác tay khi nói:

- Trong cuộc họp chi bộ mới đây ông Ba Tê chất vấn tôi về vụ bà con xin lại ngôi đình. Phải nói là ổng mê chuyện đấu đá kỳ lạ. Cứ làm như không đấu người khác được thì ổng ăn không ngon ngủ không yên. Tôi có cảm tưởng ổng âm mưu lật đổ tôi! Con người của sự đảo chánh! Cớ sự này là tại chú chú Hai à.

- Vì tao đứng đầu đơn chớ gì?

- Phải! Chú là đại biểu Hội đồng nhân dân mà chú đứng đầu đơn bà con nghe theo lời chú rầm rập. Một lá đơn mà có tới ba chục chữ ký tôi đâu dám coi thường. Bởi vậy tôi muốn thương lượng với chú. Phải nói là dân họ tin chú chú có uy tín với họ. Nếu chú rút lại ý kiến của mình mọi việc sẽ được giải quyết êm đẹp ngay thôi ...

- Nếu tao nghe lời mày một là tao tiền hậu bất nhất hai là tao phản bội bà con ba có thể coi như tao lừa họ. Làm sao tao có thể làm được điều đó hả Tài Nguyễn? Trừ khi tao là mày!

- Chú nói sao chú nói rõ hơn coi ...

- Mày cứ để tao nói trắng ra. Mày không muốn trả ngôi đình lại cho bà con vì nếu làm như vậy mày sẽ mất một số quyền lợi phải không ? Quán nước giải khát mấy cái quán nhậu ở sân đình mỗi tháng nộp riêng cho mày bao nhiêu tao biết hết!

- Tôi không đính chánh. Nhưng chú cũng cần biết rằng số tiền họ góp vô ngân sách xã hàng tháng cũng không phải ít. Ủy ban tụi tôi đã quyết định tụi tôi sẽ giữ lại ngôi đình bằng mọi cách. Nếu chú đồng ý sự thương lượng của tôi ủy ban hứa với chú hai điều: một là tụi tôi sẽ nhất trí đề nghị tập đoàn của chú được nhận huân chương lao động thêm năm nay nữa hai là tụi tôi tiếp tục tín nhiệm giới thiệu chú ra hội đồng nhân dân khoá kế tiếp...

- Còn nếu như tao không bằng lòng?

- Thì chỉ có chú và tập đoàn thiệt hại. Phần tụi tôi chú cứ chờ coi tụi tôi giữ ngôi đình bằng cách nào...

- Thôi vậy coi như tao đã quyết định. Tao đứng về phía bà con. Ta chia tay nhau chớ?

Tài Nguyễn bắt tay Hai Thìn bằng cái bắt tay lỏng. Anh ta nói thêm trước khi đi:

- Tôi vẫn hy vọng chú đổi ý!

Con ó lửa giục Hai Thìn:

- Mình cũng về thôi chứ?

- Hãy nán lại cùng ta một lúc. Lòng ta đang rối bời.

- Vì không biết phải chọn đường nào hay sao?

- Không! Không phải vì vậy! Ta đã chọn rồi mà. Ta buồn vì chưa nghĩ được cách nào hay nhất giúp bà con ta lấy lại ngôi đình. Mi chẳng thế nào hiểu được đâu. Con người chúng ta có những người đặt quyền lợi cá nhân lên cao hơn tất cả. Nhưng số đông lại đặt cái chung lên trên. Ngôi đình nó chẳng phải là một cơ sở bình thường. Nó là tình cảm là cái gì đó hết sức thiêng liêng với bà con làng biển Cát!

- Đúng là tôi không hiểu nổi chuyện của con người!

Hai Thìn châm thuốc hút. Vậy là cả hai người ông Hai xung phong và Tài Nguyễn đều cố gắng thuyết phục anh làm cái điều đáng xấu hổ với lương tâm và cả hai đều vì mục đích riêng tư. Anh đã từ chối cả hai. Anh có quá lý tưởng sống thiếu thực tế không?

 

SÁU

 

Trích hồ sơ vụ ngôi đình làng thờ Ba Ông:

 

                                                  GIẤY XÁC NHẬN

Chúng tôi là những người dân chất phác ít học. Gần đây ông Hai Thìn và ông Bảy đã xúi giục chúng tôi ký tên vào lá đơn xin lại ngôi đình làng để các ông ấy mưu lợi riêng. Chúng tôi được hứa hẹn nọ kia nên đã dại dột ký đơn. Nay chúng tôi hồi tâm nghĩ lại thấy rằng việc chính quyền sử dụng mặt bằng ngôi đình làm cơ sở văn hoá là chính đáng nên chúng tôi ủng hộ chính quyền. Chúng tôi tố cáo hành vi của hai ông Hai Thìn và ông Bảy đồng thời xin chính quyền cứu xét bỏ qua việc làm sai trái của chúng tôi.

                                                                Ký tên:

                                                   1. .................................

                                                   2. ..................................

                                                   3. .................................

                                                   4. Mười Hòa

                                                   5. .................................

 

 

                                                  BÁO CÁO

Nơi gửi: Ủy ban nhân dân xã Đại Dương.

Nơi nhận: Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Huyện.

.................

Sau khi điều tra ủy ban chúng tôi xác định đó chỉ là ý kiến của một số kẻ có ý đồ riêng tư không phải là nguyện vọng của đa số bà con. Chúng tôi kiên quyết vẫn giữ ngôi đình làm cơ sở văn hóa phục vụ nhu cầu văn hóa cho bà con.

 

                                         BIÊN BẢN HỌP ỦY BAN XÃ.

...Ý kiến của chủ tịch Tài Nguyễn: Việc Hai Thìn và Trần Văn Hanh lợi dụng bà con như đơn tố giác tạm gác lại chưa xử lý chỉ cần theo dõi các đương sự là đủ.

 

NĂM 1939 

KẺ ĐI BỐ

Cuối tháng 9 năm 1939 tướng Catroux tân toàn quyền Đông dương ra nghị định cấm tất cả các hoạt động tuyên truyền cho Cộng sản giải tán nhiều hội ái hữu và nghiệp đoàn đóng cửa hàng loạt tờ báo. Trước đó Catroux đã hạ lệnh tổng động viên đưa mấy vạn lính Việt Nam sang Pháp tham gia thế chiến thứ hai. Y thẳng tay triệt hạ những cơ sở và bắt giam người yêu nước Việt Nam.

Hai xung phong hai mươi chín tuổi trở thành đảng viên trước đó ba năm. Lốt hợp pháp của anh là y tá Lê Phú Quý ngụ tại làng biển Cát mới cưới vợ dịp cuối năm trước. Căn nhà anh ở tuy nhỏ có treo tấm bảng: "Y tá lành nghề chữa bệnh chich thuốc theo toa" nhưng ngày nào cũng có khách đến nhờ khám bệnh chích thuốc. Khách của anh là người trong làng người bên Sở Dừa người dân tộc trong rừng ra vì tò mò. Lại có những người khách đặc biệt nữa. Đó là những đồng chí của anh đến liên lạc hoặc chữa trị hoặc thông báo anh đến nơi nào đó chữa trị. Từ ngày lấy vợ anh được giao thêm nhiệm vụ bắt liên lạc với tổ chức ở Sài Gòn khi cần sẽ được điều lên đó chữa bệnh. Vợ anh một cô gái hiền lành tốt bụng. Anh không giấu vợ hoạt động bí mật của mình cô sẵn sàng động viên anh công tác và thay anh lo lắng việc nhà.

Một ngày hạ tuần tháng 12 trước ngày lễ Chúa Giáng Sinh đồng chí đến liên lạc yêu cầu anh lên Sài Gòn điều trị vết thương cho một cán bộ cấp cao. Phú Quý thu xếp để đi. Vợ anh nói với lối xóm là chồng mình phải lên tận Sài Gòn mua thuốc về dự trữ cho những ngày Tết âm lịch. Phú Quý ra đi. Mười ngày sau anh trở về người hốc hác thân thể có những vết bầm tím. Vợ anh hoảng sợ. Anh cho biết mình bị theo dõi trong thời gian ở Sài Gòn. Bọn mật thám đã bắt được anh đánh đập tra tấn nhưng anh thừa cơ hội chúng thiếu cảnh giác đã trốn thoát.

Sau này trong lời kể cũng là lời thú tội của mình với đứa con trai mười lăm tuổi vào năm 1955 tại ngôi đình thờ Ba Ông Hai xung phong mới tiết lộ một điều bí mật của đời ông. Ông kể rằng:

- Ta vừa đặt chân đến huyện đang chờ xe đi Sài Gòn thì bị bắt. Mật thám Pháp nghi ngờ ta đã lâu chờ đến lúc này mới bắt. Chúng giam ta tra hỏi đánh đập bắt ta khai ra tổ chức của mình. Ta biết chúng chỉ nghi ngờ chứ chưa biết rõ nên kêu oan bảo mình chỉ là một người y tá. Chúng không tin cứ khảo tra mấy ngày liền. Có lúc ta thấy mình không đủ sức chịu đựng muốn hy sinh để bảo toàn bí mật của tổ chức. Nhưng ta không làm được vì nghĩ đến người vợ mới cưới đang trông chờ ta trở về. Giặc dụ dỗ ta không xong chúng bèn bày mưu hứa sẽ thả ta về ngay nếu ta nhận trong thời gian hành nghề y tá có phát hiện một số người khả nghi đến chữa bệnh. Ta suy nghĩ đơn giản nếu nhận như vậy chúng vẫn chưa đủ yếu tố buộc tội mình mà tổ chức mình cũng không bị lộ. Ta ký vào đơn cung khai như chúng gợi ý.

Lập tức chúng trùm lên người ta một cái bao bố chỉ khoét hai lỗ nơi mắt dẫn ta ra một đám đông người bị bắt bảo ta phải nhận mặt những người "khả nghi" đã từng đến chữa trị nhận ra ai khi đứng trước mặt người đó thì gật đầu ra dấu. Ta kinh hoàng khi biết mình đã sa bẫy kẻ thù. Chúng dẫn ta đứng đối diện từng người bị bắt. Suốt một buổi chiều ta phải đối mặt với mấy mươi người để làm cái việc chỉ điểm khốn nạn. Giấu người giấu mặt trong cái bao bố ta không lo bất cứ ai nhận ra mình. Bao nhiêu người phải đối mặt với ta là bấy nhiêu khuôn mặt lo âu sợ hãi. Có người lấm lét nhìn ta nhìn đôi mắt ta trong bao bố như cố phát hiện xem ta là ai. Có người nhìn ta bằng ánh mắt van lơn. Có người cúi đầu sợ phải chạm ánh mắt ta mà chắc người đó hình dung là đôi mắt ác độc. Ta đi qua từng người. Ta nhận ra mấy đồng chí của mình trong nhiều lốt hợp pháp khác nhau. Tất cả những đồng chí này đều nhìn ta kẻ đi bố bằng cái nhìn thẳng như muốn nhắn "Tôi đã biết anh là ai anh sẽ bị trừng trị nếu phản bội". Ta đi đến người cuối cùng vẫn không gật đầu lần nào. Mật thám tức giận dẫn ta trở lại phòng giam lại tra khảo. Ta đau quá van xin cho ra nhận mặt lại lần nữa. Ta quyết định rồi ta sẽ chỉ cho chúng bắt một người quen nào đó khi điều tra không có kết quả chúng sẽ phải thả người đó ra. Nếu có lỗi ta cũng không đáng ân hận lắm. Ta đã chỉ một người một thanh niên hiền lành mặt rỗ. Khi ta gật đầu mặt anh ta tái xanh miệng lắp bắp: "Oan tôi quá oan tôi quá". Mật thám lập tức lôi anh ta đi.

Ta vẫn bị giữ lại. Đêm hôm ấy ta nghe tiếng đánh đập khảo tra dữ dội. Sáng ra một tên mật thám đến gặp ta báo cho ta biết ta được tha về vì đã chỉ điểm được một tên cán bộ có cỡ. Tên cán bộ này một mực chối tội đã bị đánh nhằm chỗ phạm mà chết! Ta rụng rời chân tay trên đường về lòng tự dày vò mấy phen định đập đầu vào đá mà tự tử để chuộc lỗi lầm của mình...

Tháng 10 năm 1940 vợ ta sinh con trai chính là con ta đặt tên là Lê Trung Hiếu. Con được ba tháng thì Tết đến. Câu chuyện một năm trước trở lại dằn vặt lương tâm ta. Ta không chịu đựng nổi phải thú thật với vợ mong sẽ vơi nhẹ đôi phần. Ta hoàn toàn không ngờ vợ ta đã trách giận rồi khinh rẻ ta. Cô ấy khóc lóc buồn rầu như chính mình là kẻ phạm tội. Con được sáu tháng thì mẹ con bệnh nặng qua đời.

Ta nuôi con trong cảnh gà trống nuôi con với sự giúp đỡ của những người láng giềng tốt bụng. Con thạo nghề đi biển chính là nhờ những người ấy. Còn ta lòng ta ân hận khôn nguôi. Ta bỏ hoạt động để làm dân thường. Ta sẽ nuôi con đến tuổi mười tám lo cho con cuộc sống tự lập. Rồi ta thí phát quy y...

 

NĂM 1987 

TẶNG VẬT CỦA BIỂN 

                                                    MỘT 

Những sợi tóc bạc bắt đầu xuất hiện trên đầu Hai Thìn. Đó là dấu hiệu đầu tiên của tuổi già toan đe dọa sức sống trẻ trung và mãnh liệt của anh bao năm nay. Bốn mươi bảy tuổi Hai Thìn vẫn còn rất khỏe vẫn đi biển sung sức như thời thanh niên. Bốn mươi bảy tuổi anh có hai mươi lăm năm đi biển thời gian không phải là dài so với nhiều người khác cùng trang lứa. Bạn bè anh ở làng biển Cát có người đã có hơn ba mươi năm tuổi nghề. Anh nổi tiếng là nhờ tài lặn xuống biển sâu nghe luồng cá. Người người đều nói anh thừa hưởng cái biệt tài của ông Gia Trí. Riêng anh anh nghĩ rằng Biển cả đã ưu đãi mình tặng mình sức khỏe tặng mình tài năng tặng mình tài sản của biển. Mười tám tuổi khi ông Hai xung phong xuất gia đầu Phật thành nhà sư Thích Huệ Mẫn chàng trai Lê Trung Hiếu được gởi lên Sài Gòn ăn học. Hai mươi mốt tuổi Hiếu đậu tú tài nhưng thi rớt không vào được trường đại học y khoa nên đành ghi tên học ở văn khoa môn sử địa. Cuộc đời Hiếu có lẽ đã chuyển sang một hướng khác ngày nay nếu năm thứ ba ở đại học văn khoa Sài Gòn anh không phát hiện ra mình bị bệnh lao phổi. Mất một năm nghỉ hoc để chạy chữa tài chính của gia đình không đáp ứng nổi những nhà sư quen biết cha anh cũng bó tay Hiếu quyết định trở về quê cũ sống những ngày chán chường và sẵn sàng chờ sự kết thúc của số phận dành cho mình. Anh chia tay Lài người bạn gái học sau mình một năm và thầm nói lời vĩnh biệt. Hai mươi bốn tuổi trong giấy tờ tùy thân có tờ giấy miễn dịch vì bệnh lao tờ giấy chẳng có ý nghĩa gì nữa Hiếu lại trở thành Hai Thìn cái tên gọi quen thuộc ngày anh còn nhỏ ở làng biển Cát. Thật bất ngờ Biển cả đã chữa lành bệnh cho Hai Thìn qua những ngày anh tham gia đi biển cùng ngư dân. Lài lặn lội đến tận làng biển Cát tìm anh mừng anh thố lộ tình yêu cùng anh. Hai Thìn cãi lời cha Lài cũng cãi lời cha mẹ hai người tự ý kết hôn.

Bốn mươi bảy tuổi Hai Thìn là triệu phú. Biển cả vẫn tặng cho anh những chuyến đi biển trở về đầy cá quý. Căn nhà anh ở rộng rãi không thiếu tiện nghi hiện đại nào. Anh mời Tòng Út về ở chung giao cho người bạn đáng thương việc quản lý nhà cửa khi vợ chồng anh vắng mặt. Anh uống rượu không biết say nhưng chỉ uống khi cần uống. Anh hút thuốc là kiểu ngông nghênh: mỗi gói chỉ hút một điếu được đánh số nơi nắp hộp. Bầu cử hội đồng nhân dân xã mới đây anh lại đắc cử. Đã qua rồi cái thời nhất nhất đều phải biểu quyết theo ý cấp trên. Hai Thìn chẳng phải sợ hãi khi cần phải phát biểu những ý kiến có lợi cho bà con. Anh tham gia cùng ông Ba Tê đấu tranh với Tài Nguyễn người tiếp tục được bầu làm chủ tịch xã nhiệm kỳ này đòi lại ngôi đình làng cho bà con. Anh chẳng thiếu thứ gì trên đời này. Trừ một đứa con trai!

Một đứa con trai. Đó là lý do để những sợi tóc bạc xuất hiện trên đẩu anh chăng? Chẳng lẽ Hai Thìn củng cố quan niệm sống của mình để chống lại suy nghĩ của cha anh. Vừa không tin lời nguyền ngày nào là định mệnh vừa nuôi dưỡng hy vọng sẽ có con trai vừa sẵn sàng chấp nhận thương yêu những đứa con gái của mình không đòi hỏi hơn nữa. Anh chấp nhận tất cả để đổi lại được sống theo ý mình cương quyết không làm bất cứ việc gì khiến lương tâm phải cắn rứt.

Tòng Út vừa nhờ Hai Thìn cùng đi với mình vào rừng tìm gặp bà Cả Mọi. Anh mau mắn nhận lời.

Mấy năm rồi từ khi thành lập ấp Đoàn Kết bà Cả Mọi vẫn không chịu về ỡ chung với con cháu mình trong ấp. Bà vẫn khỏe mạnh với số tuổi dư trăm tóc lại như đen hơn mắt lại như sáng hơn chỉ có đôi tay là run nhiều hơn trước. Bà làm rẫy vẫn khỏe nhưng không còn khéo đã phải bỏ hẳn việc bẫy thú bẫy chim rừng. Bà vẫn thường xuyên nghe ngóng tin tức con cháu mình ở ấp Đoàn Kết. Những người già vào rừng gặp bà bà thường mắng họ để con cháu ca hát bài ca người Kinh quá nhiều quên cả những bài ca truyền thống dân tộc quên cả tập nói tiếng nói dân tộc cho trẻ con. Con cháu bà những người phụ nữ thỉnh thoảng lại vào rừng biếu bà vải vóc may áo quần những cô gái vào rừng biếu bà thịt muối những người đàn ông vào giúp bà sửa sang căn nhà sàn thanh niên đi săn bao giờ cũng ghé lại xin nước uống và chia phần thịt săn được. Bà năng đi lại trụ sở xã để kêu đòi quyền lợi cho con cháu chẳng kiêng nể sợ sệt ai. Thần rừng người dân tộc nào cũng nghe nói nhưng chưa ai trông thấy còn bà Cả Mọi bà là Thần rừng có thực trong cuộc sống của họ. Nguyện vọng của Tòng Út được giải quyết hay không cũng do bà.

Hai Thìn lên nhà sàn trước:

- Tôi đi thăm bà biếu bà sữa hộp và vải.

Bà Cả Mọi vui vẻ nhận ngay:

- Hội đồng Hai Thìn tốt lắm. Sao mày không bảo Tòng Út cùng lên. Nó ở dưới kia rình rập nhà tao à?

- Tòng Út nhờ tôi xin phép bà rồi mới dám lên.

- Tao mời nó! Nó không còn là người dân tộc nhưng nó không phải là kẻ thù nó lên nhà tao được đấy.

Tòng Út lên nhà. Vừa thấy bà Cả Mọi anh ta đã sụp xuống lạy:

- Bà Cả ơi! Đừng giết tao bằng những lời lẽ ấy. Tha thứ cho tao đi. Xin Thần rừng cho tao được làm con cháu Thần rừng lại đi...

- Đừng lạy tao. Mày ra ghế kia ngồi mà làm khách như Hội đồng Hai Thìn vậy.

Hai Thìn nói với người già nhất làng dân tộc:

- Tôi thương Tòng Út như em. Tôi muốn xin tội cho Tòng Út có được không?

- Xin bằng cách nào?

- Tôi xin thay mặt Tòng Út làm tất cả những gì bà Cả yêu cầu.

- Làm một cái trường cho con cháu tao học Hội đồng Hai Thìn có làm được không?

- Làm gì nữa?

- Không để cho con cháu tao thiếu dầu thắp đêm nữa Hội đồng Hai Thìn làm được không?

- Riêng phần bà tôi cần làm gì cho bà?

- Phần tao chẳng cần. Cứ làm cho con cháu tao trước đã.

- Tôi sẽ trả lời bà Cả vào ngày mai. Tôi muốn biết nếu làm xong hai việc đó. Tòng Út có được trở lại làm người dân tộc chưa?

- Nó sẽ phải trải qua một thử thách nữa. Chính nó sẽ phải chịu sự thử thách ấy không ai thay thế được.

Tòng Út lại chạy tới bên bà Cả Mọi ôm chân bà:

- Tao sẽ làm tất cả những gì bà Cả cần tao làm.

- Mày đừng khóc Thần rừng không ưa nghe tiếng khóc.

- Hãy cho tao một đặc ân. Hãy cho tao được nói tiếng dân tộc một lần.

- Không được. Thần rừng sẽ chẳng tha thứ cho mày nữa nếu mày làm sai lời phạt. Mày chỉ được phép nghe người dân tộc nói và hát.

- Vậy hãy hát cho tao nghe một bài hát dân tộc đi bà Cả.

- Được. Tao sẽ hát cho Hội đồng Hai Thìn và mày là hai người khách của tao nghe...

Yang gọi tao lên nương