Tiểu thuyết LỜI NGUYỀN 200 NĂM (9)

LỜI NGUYỀN HAI TRĂM NĂM

Tiểu thuyết của KHÔI VŨ

(Giải thưởng Hội Nhà văn 1989-1990)

 

LNHTN 09

HAI

Ông Ba Tê vẫn là một đảng viên hưu đấu tranh không mỏi mệt. Dường như ngoài thì giờ chăm sóc vườn dừa tắm rửa cho mấy đứa cháu cơm nước nghỉ ngơi còn bao nhiêu thời gian rảnh rỗi ông dành cả cho việc "đấu tranh". Những khi cần ông sẵn sàng đạp chiếc xe đạp không thắng của mình lên huyện lên tận tỉnh để khiếu nại đòi hỏi. Bà con xã Đại Dương gọi ông bằng "bố" và thường gõ cửa nhà ông nhờ "bố" can thiệp từ chuyện tố cáo cán bộ có hành vi xấu đến chuyện cãi cọ giữa hai gia đình. Một phía khác có người gọi ông là ông già gàn lại có người bảo là ông "quậy".

Hai tháng nay ông Ba Tê không được nhận lương hưu. Nghe ông kể Hai Thìn nói:

- Nếu anh Ba cần tôi ứng trước một ít để anh Ba xài. Chừng nào có lương thì tôi lấy lại.

Ông Ba Tê lắc đầu:

- Đây chẳng qua là đòn kinh tế của Tài Nguyễn với tôi thôi. Nó dằn mặt tôi vụ ngôi đình làng đây mà. Báo tin cho chú Hai mừng phiên họp mới nhất tôi vận động được số phiếu ủng hộ mình chỉ còn thua Tài Nguyễn một phiếu. Chẳng bao lâu nữa chắc chắn tôi sẽ thắng bà con sẽ nhận lại đình làng mà trùng tu thờ cúng. Riêng chuyện lương hai tháng của tôi chú chờ đó đi tôi lên tỉnh kêu coi sao. Tôi quyết chiến đấu tới cùng mà!

Ông Ba Tê đạp xe lên huyện rồi đi xe khách lên tỉnh. Tới văn phòng ủy ban tỉnh phó văn phòng cho biết chủ tịch đi vắng hỏi tên ông để báo lại. Nghe xưng tên ông ta nhìn ông lom lom rồi nói:

- Thì ra bác là bác Ba Tê ở xã Đại Dương. Nghe anh em dưới đó nói bác "quậy" dữ lắm. Bác Ba ơi cho tôi có lời khuyên. Ngày nay thế giới còn bắt tay nhau thù hóa bạn nữa là ta đồng chí với nhau...

Ông Ba Tê nhìn phó văn phòng bằng cái nhìn nảy lửa:

- Chú nói năng cẩn thận nghe chưa? Đồng chí với cái bọn tiêu cực hả? Xin lỗi cả chú nữa tôi chẳng coi là đồng chí nổi!

Rồi ông tót lên xe đạp đi tìm nhà riêng chủ tịch.

Đợi tới chiều mới thấy xe con đưa chủ tịch về ông Ba Tê đẩy xe đạp tới chặn lại và nói luôn:

- Tôi là Ba Tê đảng viên hưu trí ở xã Đại Dương. Tôi xin gặp đồng chi chủ tịch ba phút thôi. Tôi có hai điều cần nói. Thứ nhất đến hôm nay tôi chưa nhận được lương hưu của hai tháng trước là tại sao?

Chủ tịch tỉnh ngạc nhiên trước thái độ của ông già vội trấn tĩnh ông:

- Xin đồng chí bình tĩnh. Tôi xin ghi ngay ý kiến thắc mắc của đồng chí đây: đồng chí Ba Tê xã Đại Dương không nhận được lương hưu hai tháng nay vì sao? Đề nghị xem và giải quyết khẩn cấp. Vậy đó đồng chí đã bằng lòng chưa?

- Xin cảm ơn đồng chí chủ tịch. Còn đây là điều thứ hai. Tôi tới ủy ban tìm gặp đồng chí không gặp phó văn phòng của đồng chí nói với tôi là "Nghe nói tôi quậy ở địa phương". Tôi không đồng tình với lời nói ấy. Việc thứ nhất không thể nói với một cán bộ là nghe nói người ta thế này nghe nói người ta thế kia. Việc thứ nhì thế nào là quậy? Đấu tranh chống tiêu cực là quậy chăng? Tôi biết đồng chí rất bận nhưng nếu có dịp rảnh xin mời đồng chí về địa phương chúng tôi xem xét tình hình chắc đồng chí sẽ giúp bà con ở đó được nhiều điều...

- Xin ghi nhận ý kiến của đồng chí. Tôi ghi đây: sẽ về Đại Dương để nắm rõ tình hình ở đó.

Ông Ba Tê phấn khởi ra về không thèm đi xe khách mà cứ đạp xe đạp về đến làng biển Cát lúc nửa khuya. Ông gõ cửa nhà Hai Thìn kể chuyện tin chắc chủ tịch tỉnh sẽ giữ lời hứa.

Trưa hôm sau chủ tịch xã Tài Nguyễn nhận được điện hỏi của chủ tịch huyện vì sao cấp trễ lương cho cán bộ hưu ở địa phương có ý kiến chủ tịch tỉnh phải giải quyết ngay. Tin ông Ba Tê lên tỉnh và chủ tịch tỉnh hẹn sẽ về Đại Dương cũng đến tai Tài Nguyễn. Anh lo lắng vội bảo tài vụ xã mời ông Ba Tê lên nhận ngay hai tháng lương của ông ta mà anh giữ lại để gây sức ép. Việc ngôi đình anh viết gởi Hai Thìn một lá thư:

                                           Chú Hai Thìn.

Tôi đã nghĩ lại và có ý trả ngôi đình làng lại cho bà con. Tôi muốn đưa ra đề nghị chú Hai vận động bà con đóng góp làm cho xã một cơ sở văn hóa rồi chính quyền sẽ trả đình. Chú Hai nghĩ sao cho tôi biết sớm.

      

                                                    BA 

Lài hỏi chồng:

- Anh tính sao?

Hai Thìn phán đoán:

- Đây là đòn gỡ trước của Tài Nguyễn thôi. Anh ta sợ chủ tịch tỉnh về đây anh ta sẽ gặp rầy rà nên đành giải quyết nguyện vọng của bà con. Nếu mình không nhận lời sớm rồi sau đó cũng chẳng có ai về kiểm tra anh ta sẽ đổi ý.

- Vậy là anh nhận lời vận động bà con đóng góp xây cơ sở văn hóa?

- Phải! Nếu cần mình sẽ bao chót để bà con nhận lại ngôi đình...

Hai vợ chồng im lặng một lúc. Rồi Hai Thìn hỏi vợ:

- Em có tiếc của không? Anh đã bỏ tiền ra xây trường học cho đám trẻ ấp Đoàn Kết giờ lại định bao chót việc xây cơ sở văn hóa...

Lài dúi đầu vào ngực chồng:

- Không em không hề tiếc của. Chúng ta còn thiếu thứ gì nữa đâu anh. Em chỉ lo lắng một điều... Một điều rất mơ hồ thồi... Có người nói là anh muốn chơi nổi. Em không quan tâm điều đó. Em chỉ tự hỏi vì sao thời gian gần đây anh lại có những quyết định như thế? Có lẽ nào đó lại là dấu hiệu của một chuyện gì sắp xảy đến với anh chưa biết tốt xấu ra sao?

- Thôi anh hiểu rồi. Em đừng nên nghĩ quẩn. Chẳng phải là điềm báo hiệu gì đâu. Đơn giản là trong suy nghĩ của anh hiện nay anh rất cần chứng tỏ với ba là anh kiên quyết đi theo con đường mình đã chọn.

- Em thật có lỗi đã không sinh cho anh một đứa con trai.

- Đừng nhắc đến chuyện ấy nữa em...

                                                BỐN     

Vợ Mười Hòa gặp Hai Thìn. Chị vòng vo mãi mới nói đến điều muốn nói:

- Bà con nói với nhau đình làng ta sắp được trả lại. Tôi mừng nhưng càng mừng tôi càng ân hận. Tôi thấy mình phải gặp chú Hai mà thú nhận chuyện này... Trước đây tôi đã ký giấy tố cáo chú Hai xúi giục mình xin lại ngôi đình. Chú Hai thông cảm cho tôi... (Người đàn bà thút thít khóc). Năm Mộc đã ép tôi phải ký. Tôi khổ lắm. Con rắn độc ấy đã làm khổ tôi bao lâu nay tới bây giờ vẫn còn làm khổ tôi...

Hai Thìn càng nghe càng nổi nóng. Anh không ngờ Năm Mộc lại lợi dụng căn bệnh của vợ Mười Hòa đến mức táng tận lương tâm. Người đàn bà đau khổ nhận được lời hứa bỏ qua mọi chuyện của anhvui mừng ra về. Hai Thìn lập tức đi tìm Năm Mộc.

Năm Mộc không có nhà. Hai Thìn ra bãi biển gặp ông ta đang ném câu ở đó. Anh chạy tới nắm cổ áo Năm Mộc:

- Đồ khốn nạn!

- ... khốn nạn! - Năm Mộc hoảng hốt buông câu nói liệu - Hai Thìn! Buông tao ra...

- Tôi sẽ ném ông xuống biển. Ông đã làm khổ một người đàn bà đáng tội nghiệp ông chẳng còn đáng sống nữa...

Hai Thìn đẩy Năm Mộc ngã chúi xuống cát. Sóng biển ào vào kéo ông ta ra một đoạn. Năm Mộc la hoảng:

- Bớ người ta! Cứu tôi với!

Hai Thìn vẫn chưa nguôi giận anh bước tới dậm chân lên ngực Năm Mộc. Tội nghiệp ông ta mặt không còn giọt máu mắt nhìn Hai Thìn van lơn miệng lắp bắp:

- Tha cho tao Hai Thìn. Tao hứa tao hứa sẽ không làm điều gì hại ai nữa... Cho tao sống để tao phụ con Tám nuôi hai đứa cháu ngoại trai... Tội nghiệp tụi nó mà...

Hai Thìn rút chân lại. Quanh đây như có Ba Vui đang nhìn anh tiếp lời Năm Mộc: "Tha cho ổng đi. Vì vợ con tôi mà anh Hai".

Hai Thìn nói với Năm Mộc mà như nói một mình:

- Bà con làng xóm với nhau sao chẳng thương nhau lại nỡ hại nhau. Cả đời tôi không dám làm một điều ác dẫu rằng có phải chịu bao sự thiệt thòi. Cha tôi không nhận tôi. Những kẻ ganh tị tìm cách hại tôi. Tôi ao ước một đứa con trai chịu đau khổ một mình. Trước sau tôi vẫn không thể làm điều gì lương tâm không cho phép. Vậy mà ông...

Năm Mộc không dám đứng lên mà cứ ngồi nguyên trên bãi cát. Sóng biển mỗi lần vào bờ vỗ vào người ông ta rồi lại rút ra ngạc nhiên. Hai Thìn vẫn nói một mình:

- Tôi đi biển chuyến nào cũng đem về nhiều cá. Biển ưu đãi tôi nhưng tôi sẵn sàng chia sớt cho mọi người. Nếu ông muốn ông có thể cùng đi biển với tôi đừng xoay tiền ở người đàn bà đau khổ kia nữa. Nghe tôi nói ông Năm tôi đã nói là làm...

Năm Mộc nhìn Hai Thìn nói. Nhìn chứ không phải chỉ nghe. Lần đầu tiên trong đời ông ta cảm thấy mình cần phải khóc.

NĂM

Chủ tịch tỉnh chưa đến xã Đại Dương được có lẽ vì bận nhiều việc khác quan trọng hơn. Nhưng những gì cần làm để đáp ứng nguyện vọng của người dân xã ảại dương thì đã được làm. Ủy ban xã ký quyết định trả lại ngôi đình làng cho bà con làng biển Cát đồng thời với việc vận động xây dựng cơ sở văn hoá cho xã. Ngôi trường mới của lũ trẻ ấp Đoàn Kết đã xây xong bàn ghế là do mấy gia đình khá giả đóng góp. Cô Út con gái ông già Bảy được mời làm cô giáo dạy tiếng Kinh cho lũ trẻ trước khi xã xin huyện cử giáo viên về.

Ngày khánh thành trường những người cần có mặt đều có mặt. Chủ tịch Tài Nguyễn người thường lơ là việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho bà con người dân tộc ấp Đoàn Kết được mời phát biểu lại nói những lời thật dễ nghe:

- ... phải nói là đây là công trình nhà nước và nhân dân cùng làm tiêu biểu của xã ta. Từ nay con em bà con dân tộc đã có nơi học tập nâng cao kiến thức để sau này đóng góp thiết thực và hiệu quả vào việc xây dựng đất nước. Phải nói là...

Xong lễ mọi người giải tán. Bà Cả Mọi mời riêng Hai Thìn vào rừng đến căn nhà sàn của mình. Chình tay bà rót một ly rượu mời anh uống:

- Hội đồng Hai Thìn là người Kinh là vua biển mà rất thương người dân tộc của tao. Cầu Thần rừng ban cho mày sức khoẻ cái bụng no và cái miệng cứ cười...

Bà Cả Mọi cũng uống rượu. Bà vui rất vui nên mới thế. Hai Thìn nhắc:

- Bao giờ Tòng Út mới được nhận lại làm người dân tộc?

- Nó sẽ phải chịu một lần thử thách cuối cùng. Để lát nữa khi về. tao sẽ nói để Hội đồng Hai Thìn báo cho nó biết...

Bà Cả Mọi uống đến ly rượu thứ ba thì bắt đầu say. Bà hào hứng kể chuyện đời mình. Chuyện những năm tháng theo cách mạng kháng chiến trong rừng. Và chuyện thời con gái của bà. Thì ra người đàn bà ấy đã nuôi trong lòng một mối hận tình từ mấy chục năm nay. Một người đàn ông Kinh đã tình cờ gặp bà cùng bà thề hẹn đã làm chủ cả tâm hồn lẫn thể xác bà rồi đột nhiên anh ta biến mất.

- Kể từ đó tao đi khắp nơi tìm người ấy. Tao chẳng lấy chồng tao chẳng thương ai. Tao ghét bất cứ đứa đàn ông nào giả dối lừa lọc đàn bà. Như Tòng Út vậy. Nó bị tao trừng phạt nặng cũng vì nó đã làm cho một cô gái phải chết. Tao sống mà như đã chết từ lâu rồi. Tao quên cả tên tao. Khi nào cần phải nhớ tao nhớ mãi mới ra. Phải rồi ngày đó tên tao là Tòng Mật...

Hai Thìn đang uống một ngụm rượu chợt nghe miệng đắng nghét. Mặt anh tái lại như bị trúng phong. Người anh run rẩy. Trong đầu anh ong ong cái tên Tòng Mật. Ong ong lên câu chuyện anh nghe kể năm mười lăm tuổi trong đình thờ Ba Ông. Đó là chuyện ông Châu Toàn ông nội anh thời trai trẻ đã bỏ rơi một cô gái người dân tộc quen biết trong một chuyến đi săn. Thì ra anh cháu trai của người đàn ông phạm tội năm xưa giờ đây đang tình cờ đối mặt với cô gái mang tên Tòng Mật ngày ấy là bà Cả Mọi ngày nay. Anh sẽ phải làm gì? Sẽ phải nói gì?

SÁU

Một buổi sáng trời thật đẹp lũ trẻ con trong làng kéo đến nhà ông già Bảy. Chúng đứng ngoài hàng rào kêu lớn:

- Ông Bảy ơi! Hái me ngọt cho tụi con đi!

Ông già Bảy bị bệnh từ ngày bà con cử ông làm ông từ trông coi ngôi đình làng được trả lại hôm nay cảm thấy trong người khỏe hơn mọi ngày. Lũ trẻ xúm quanh ông đứa níu áo đứa cầm tay đứa ôm chân nhao nhao lên:

- Sao ông Bảy bệnh lâu vậy?

- Hái me cho tụi con nhiều nhiều nghen ông Bảy.

- Năm nay ông Bảy đừng có cho khách nữa. Ông Bảy bán lấy tiền mà mua thuốc uống.

Ông già ngồi xuống cái chõng tre kê dưới gốc cây me ngọt bảo chúng:

- Được rồi ông Bảy sẽ hái cho mỗi đứa một ôm tha hồ ăn. Nhưng trước hết tụi bay ngồi đây kể chuyện làng ta cho ông Bảy nghe đã. Lâu ngày ông Bảy không đi xóm chẳng biết có chuyện gì...

Lũ trẻ lại nhao nhao lên tranh nhau kể:

- Con thấy cô Út làm cô giáo ở làng dân tộc nè.

- Con nghe má con nói mai mốt ông Bảy dọn qua bên đình ở luôn phải hôn?

- Ông Năm Mộc hồi này ít thấy đánh bài ông nói mai mốt ông đi biển với vua biển. Có nhiều tiền ông mới đánh bài giải chí...

- Có ông nhà báo ưa tới nhà chú Hai Thìn nghe nói người ta sắp đưa chú Hai Thìn lên mặt nhựt trình nữa.

 ... Ông già Bảy thấy lòng rộn vui khó tả. Làng biển Cát đã bắt đầu bước vào ngày yên vui thật rồi. Vua biển. Anh ta xứng với cái danh ấy. Dòng họ Lê ở làng biển Cát này năm đời đều làm những chuyện lạ khác người. Nhưng chỉ tới đời thứ năm đời vua biển mới vẹn toàn tình cảm với xóm làng. Như là người đàn ông này sinh ra để làm những việc bổ sung cho từng khiếm khuyết của bốn người đàn ông bốn đời trước đó vậy. Nếu có gì phải ân hận thì vua biển chỉ còn ân hận một điều: Có thể anh ta trở thành người đàn ông cuối cùng của dòng họ mình. Làng biển Cát sẽ chia sớt nỗi buồn ấy của vua biển.

Trời xanh xanh như chưa bao giờ có. Ông già Bảy nghe thấy tiếng cây me già bảo mình:

- Đừng để cho lũ trẻ chờ đợi nữa. Tội nghiệp chúng đang thèm được nhấm nháp những trái me ngọt của tôi kìa. Hãy chiều chuộng chúng rồi dạy chúng điều hay lẽ phải. Chẳng bao lâu nữa chúng sẽ lớn lên sẽ xây dựng thêm cho làng mạc này.

Ông ngước lên nói với cây me già:

- Phải lắm! Người già rồi sẽ chết chẳng nên tiếc gì với lũ trẻ nếu không muốn sau này chúng oán trách mình là ích kỷ tham lam...

Ông già Bảy thấy mình rất khỏe. Ông đứng vươn vai hít một hớp không khí buổi sáng của vùng biển quê hương. Trời xanh như chưa từng xanh. Lũ trẻ xúm quanh ông ông ra lệnh:

- Ông Bảy leo lên hái tụi bay đứng dưới lượm bỏ hết lên chõng rồi ông Bảy xuống ông Bảy chia đều nghe chưa?

Cây me già rung rinh cành lá khi ông già Bảy leo lên thân nó:

- Tôi đã ra thật nhiều trái. Năm nay trái nào cũng ngọt lịm. Đây chùm trái gần nhất. Kia một chùm nữa.Hái cho lũ trẻ đi. Hái nữa đi...

Lũ trẻ đứng dưới đất tranh nhau nhặt me tranh nhau chạy đến bỏ trên chõng thành một đống lớn.

- Hái chùm me lớn kìa ông Bảy! Đó ! Đó!

Ông già Bảy kiễng chân với tay để hái chùm me thật lớn mà lũ trẻ phát hiện ra. Bàn tay ông sắp chạm vào chùm me. Bầu trời nhìn qua kẽ lá xanh thăm thẳm. Thăm thẳm...

Đột nhiên ông thấy mình bay bổng. Phải đó là cảm giác đang bay bổng lên chứ không phải sự thực là ông bị hụt chân rơi xuống. Tiếng reo của lũ trẻ ông nghĩ về những tiếng kêu thất thanh của chúng như thế đã nâng bổng ông lên. Một cái gì đó như là cát thì phải lại nâng người ông lên thêm lần nữa. Lũ trẻ lại reo vui chẳng phải chúng kêu cứu. Trời rất xanh. Rất xanh. Ông già Bảy nở một nụ cười...

                                                BẢY 

Đêm ba mươi âm lịch trời tối mịt. Hai Thìn lên huyện họp từ sáng không thấy về chắc nghỉ lại đêm trên đó. Lài đợi đến mười một giờ định đợi thêm nửa tiếng nữa mới đi ngủ. Ba đứa con gái của chị đã yên giấc từ lâu. Xem truyền hình xong đứa nào cũng bảo đợi ba về coi được quà gì. Nhưng đợi chưa đầy nửa tiếng đứa nào cũng sụp mắt lần lượt đi ngủ cả. Trẻ thơ hồn nhiên quá kể cả đứa con gái lớn nhất của Lài vừa mới thành thiếu nữ ít lâu nay.

Lài để đèn mờ ngồi chờ chồng nơi phòng làm việc của tập đoàn ở tầng trệt. Quanh tường người ta treo đủ thứ cờ thưởng bằng khen giấy khen màu vàng màu đỏ. Bàn làm việc của Hai Thìn tập đoàn trưởng tập đoàn đánh cá đơn vị vừa được nhận huân chương lao động hạng Ba đầy hình ảnh đặt dưới mặt kính năm ly. Tất cả hình ảnh chụp mình anh ghép lại thành hai chữ VUA BIỂN. Có người nói anh tự kiêu. Anh cười đáp: "Tự hào khác xa tự kiêu chứ". Với anh khiêm tốn là một đức tính không cần thiết nếu người ta tự hiểu được mình là ai khả năng mình đến đâu. Anh cứ sống cứ làm những gì mình nghĩ mình thích miễn không phương hại đến người chung quanh. Anh chẳng cần gì ngoài điều đó.

Nhưng Lài không thể nghĩ như chồng. Điều băn khoăn đến trở thành nỗi lo thường ngày của chị là làm sao có được một đứa con trai. Chị tham khảo các tài liệu khoa học từng áp dụng phương pháp ăn uống đặc biệt cho lần trước nhưng chị không thành công đứa thứ ba chị sinh vẫn là gái. Lài thất vọng chị luôn bác bỏ những gì huyền hoặc như câu chuyện lời nguyền ngày trước đến những ngày tháng này chị lại phải tự hỏi phải chăng vẫn có những gì đó thuộc một lĩnh vực mà khoa học chưa thể tìm hiểu được? Nghĩa là quả có sự ứng nghiệm của lời nguyền ngày nào với từng người đàn ông của dòng họ Lê?

Có tiếng gõ cửa. Lài bật dậy chạy ra mở cửa. Chị hỏi:

- Anh về phải không?

Cửa mở. Không phải Hai Thìn mà là Tám vợ góa Ba Vui. Lài ngạc nhiên hỏi:

- Đi đâu nửa khuya vậy Tám?

Tám thở hổn hển:

- Em chết mất chị Hai ơi!

Lài khép cửa dìu Tám ra xa lông:

- Chuyện gì vậy em kể cho chị Hai nghe đi.

- Anh Hai có nhà không? Em không muốn ảnh nghe biết chuyện này.

- Ảnh đi huyện chưa về.

- Em chết mất...

- Bình tĩnh đi Tám nói cho chị Hai nghe coi...

Tám ôm lấy Lài gục mặt vào bên vai chị mà khóc. Lài thấy hơi thở cô cả thân thể cô nữa nóng bừng như lò lửa. Tám khóc vùi một lúc mới nói:

- Trời hành em chị Hai ơi!

Lài buông Tám ra nhìn cô sững sờ. Lài nhớ chuyện vợ Mười Hòa. Làng biển Cát lại thêm một người đàn bà đau khổ. Lài lại nhớ tới việc làm xấu xa của Năm Mộc. Ác giả ác báo cho ông ta chăng? Bây giờ tới lượt con gái ông ta mắc bệnh. ảó là phần Năm Mộc người cha. Còn Tám nếu cô phải chịu tội thay cha mình thì thật tội nghiệp. Lài bảo Tám:

- Chị Hai đưa em lên lầu nằm nghỉ tạm để chị Hai đi gọi vợ Mười Hòa chị ấy sẽ giúp em tốt hơn chị Hai.

Tám theo chủ nhà lên lầu. Khi Lài trở xuống Tám nằm vật ra giường mà lăn lộn người hừng hực lửa cố không để bật ra tiếng kêu rên. Cô tưởng tượng Ba Vui chồng cô đang có mặt nơi đây. Cô nhớ lại những đêm những buổi sáng chồng cô đến với cô bằng cơn cuồng say của xác thịt. Ngày đó thường là cô chịu đựng để chiều chồng. Còn lúc này chính cô thèm khát ao ước...

Muời Hòa đến. Nước mắt chị quanh tròng vì thương hại Tám. Tám ôm lấy người đàn bà:

- Tui chết mất thím Mười ơi! Cứu giùm tui...

Vợ Mười Hòa cố gắng giúp Tám dịu cơn bệnh dữ. Tám mắc bệnh khác chị nhiều. Bệnh phát vào đêm ba mươi tăm tối lại kéo dài đến sáng mới yên. Người Tám rũ rượi cô nằm sóng sượt như người sắp chết. Phải làm gì giúp nó những lần sau? Vợ Mười Hòa lại ứa nước mắt khi nghĩ đến thân phận của người đàn bà góa...

                                                TÁM             

Cúng thất tuần ông già Bảy Tòng Út có mặt từ sáng đến lúc xong lễ. Anh giúp anh em cô Út như một người nhà. Vì ông già Bảy là người già của anh ở làng biển Cát này như những già làng mà anh sẽ lại được về quỳ bên họ đọc kinh khấn Thần rừng không lâu nữa. Vì cô Út bây giờ đã là cô giáo của những đứa trẻ người dân tộc làng anh. Cô Út cô gái người Kinh ấy không còn gợi trong anh sự ham muốn của một người đàn ông như ngày nào nữa mà hình ảnh cô đã xuất hiện thường xuyên trong trí tưởng của anh. Mối tình thầm kín không biết có tự bao giờ chỉ biết là nó có thật anh chỉ dám nghĩ đến chẳng thể thổ lộ cùng ai. Chỉ đôi lúc anh tự cho phép mình được quyền hy vọng dù là điều hy vọng mỏng manh: phải chăng chính Thần rừng đã đưa cô gái đến với những đứa trẻ người dân tộc làng anh là để một ngày nào đó đưa cô đến với anh. Tất cả chỉ nằm trong ý nghĩ trong bài hát buồn mà Tòng Út thường cất lên tâm sự với cây đàn ống tre yêu quý của mình: "Cái trái bầu tròn làm chết hoa xanh cái môi mày cười làm đau tim tao..."

Quá trưa Tòng Út chào về.

Cô Út mặc bộ bà ba đen thắt khăn tang trắng tiễn Tòng Út ra tận cổng. Cô nói với anh khi nhìn anh bằng ánh mắt khiến anh phải mơ mộng:

- Gia đình em cảm ơn anh nhiều lắm. Em sẽ cầu xin vong hồn ba em phò hộ anh sớm được trở về làng dân tộc...

Lần đầu tiên Tòng Út dám nhìn thẳng vào mắt cô gái. Anh có cảm tưởng cô đã hiểu thấu lòng anh và anh cũng hiểu thấu cô đang nghĩ gì:

- Người già làng tao khó lắm nó còn bắt tao chịu một thử thách nữa mới cho về.

- Đó là thử thách gì?

- Tao sẽ phải đi biển một lần. Nếu biển hành xác tao trong chuyến đi ấy nghĩa là tao vẫn là con cháu Thần rừng. Cô giáo mày biết rồi đấy Biển cả vẫn thù ghét con cháu Thần rừng. Vua biển nói xây xong cơ sở văn hóa cho xã nó sẽ đi biển lại nó sẽ cho tao cùng đi chuyến biển đầu tiên với nó...

- Anh có sợ biển không?

- Sợ. Tao sợ biển lắm. Tao sợ nó hành hạ tao. Nhưng điều làm tao sợ hơn nhiều là tao không được nhận về làng dân tộc. Mày có hiểu lòng tao không?

Cô Út đáp rất khẽ:

- Em hiểu...

Tòng Út ra về lòng hân hoan và nuôi bao hy vọng.
 

(Xem tiếp LNHTN 10)

In NXB Thanh Niên (lần 1 năm 1989 tái bản năm 2004) & NXB Đồng Nai (tái bản năm 1995)