Tiểu thuyết VỠ DẦN TRONG MẮT (KHÔI VŨ) - Chương 2

VỠ DẦN TRONG MẮT
Tiểu thuyết của Khôi Vũ


2

Đêm của ngày thứ mười bốn có lẽ đã qua những thời khắc đầu tiên của ngày hôm sau tôi có một giấc mơ kỳ lạ.

Vào một buổi chiều mùa hè nóng như đổ lửa tôi đi xe khách ra thành phố Vũng Tàu. Thời gian gần đây đường ra thành phố biển có thêm nhiều tuyến xe buýt với giá cả chấp nhận được do phải chạy đúng giờ quy định nên không còn cảnh khách lên xe còn ít thì tài xế chưa chạy hoặc chạy vòng đi vòng lại đón thêm khách mất thì giờ. Không rõ hôm ấy là thứ mấy trong tuần mà chiếc xe buýt tôi đi chỉ có vài người khách. Lúc trả tiền xe tôi hỏi chị bán vé: "Chạy thế này thì làm sao sống được?". Chị phụ nữ mặc đồng phục áo xanh quần đen giống như anh tài xế cười thản nhiên: "Không sống được nhưng vẫn không chết đâu anh ạ!". Chiếc xe bon trên đường cũng vắng vẻ và hơi nóng theo gió thốc qua cửa sổ hừng hực như có lửa trong đó. Cả đến khi xe vào địa phận Vũng Tàu vào con đường chạy ven khu vực trung tâm đã xuất hiện mặt nước biển với từng lùm cây đước xanh vươn lên trên chùm rễ vững chãi không khí vẫn không dịu đi là bao.

Xe vào bến tôi vừa bước xuống đã có hàng chục người chạy xe ôm - người đi bộ người ngồi trên xe - xúm lại mời đi. Tôi lắc đầu từ chối vì đã có hẹn với anh bạn nhạc sĩ ở đây ra đón. Và anh bạn nhạc sĩ vừa vặn xuất hiện từ xa với mái tóc bạc dài phủ vai; một tay anh dắt chiếc xe đạp khung ngang sơn màu xanh nước biển.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

- Chiếc Attila của ông đâu rồi?

Anh bạn lúc lắc mái tóc dài miệng cười méo mó:

- Bọn lưu manh nó "đua nóng" mất mấy ngày nay rồi. Thôi ông lên đỡ chiếc xe đạp này tôi chở ông về nhà thằng Lam.

Tôi lại thêm một lần ngạc nhiên:

- Lam nào?

- À! Một thằng bạn nối khố của tôi ấy mà. Nhà nó ở sát biển tha hồ cho ông lấy cảm hứng sáng tác bài hát về biển...

Tôi nhảy lên yên sau chiếc xe đạp. Không hiểu sao anh bạn nhạc sĩ "cá mắm" người gầy gò "xương nhiều hơn thịt" của tôi lại đạp xe thật khỏe chẳng khác một cua-rơ chính hiệu. Chiếc xe đạp chở hai chúng tôi cứ băng băng về phía biển. Lạ một điều bây giờ thì cái nóng đã biến đâu mất hẳn. Đường phố có những đợt gió như sắp có bão!

Rồi trước mắt tôi là biển xanh với những sắc độ khác nhau. Gần hơn là một cái chòi lợp lá dừa nước rách nát dựng ngay sát mép biển quay lưng ra biển giống như những căn nhà "chống gậy" của bà con nghèo thành thị dựng ở ven sông rạch.

- Nhà của ông Lam đây sao?

- Ừ! Nhưng ông cứ gọi nó là "thằng" như tôi gọi vậy. Nó mới mười lăm tuổi thôi mà.

- Thế sao ông bảo là bạn nối khố?

- Thì đúng thế! Tôi và nó chỉ có một cái quần cụt mặc thay nhau. Như lúc này thì nó mặc vì tôi đã có quần dài...

Tôi ngỡ như mình lạc vào cõi cổ tích với câu chuyện của Chử Đồng Tử thời Hùng Vương xa xưa của nước ta.

- Thế nó đâu rồi không thấy? Thằng Lam ấy! - Tôi bước vào trong chòi đầu phải cúi xuống để khỏi bị đụng cái cửa quá thấp so với chiều cao một mét sáu mươi lăm của tôi mắt tôi vừa quan sát cái không gian chật hẹp bừa bộn đồ đạc vừa hỏi anh bạn.

Anh bạn nhạc sĩ vẫn đứng ngoài chòi trả lời:

- Chắc là nó đi chợ mua cái gì đó về đãi khách. Ông yên tâm đi thằng nhỏ này khá lắm. Gì chứ đãi khách thì nó lo cực kỳ chu đáo. Đến đây ông không có sơn hào để ăn nhưng hải vị thì chắc chắn là có! Tôi cam đoan toàn là những món mà du khách các nơi đến Vũng Tàu này nếu muốn ăn phải vào nhà hàng đắt tiền mới có.

Tôi thầm nghĩ là anh bạn của mình đang "nổ". Có lẽ để ngăn chặn sự phát triển ý nghĩ ấy của tôi một thằng bé bỗng xuất hiện ở phía ngoài căn chòi cứ như ông bụt hoặc bà tiên trong chuyện cổ tích hiện ra khi cần thiết. Nó chắc chắn là thằng Lam rồi. Nó mặc cái quần cụt "nối khố" mà anh bạn nhạc sĩ có mái tóc bạc "ấn tượng" của tôi vừa nói đến nhưng phía trên thì là cái áo thun ba lỗ còn rất mới trước ngực có in hai chữ "Vũng Tàu"màu xanh dương. Nó có làn da đen nhẻm khoác quanh thân mình cao dong dỏng nhưng rắn chắc. Trên tay nó là mấy cái túi ni-lông mà tôi nhìn rõ trong đó có nào cua biển nào mực ống cá hồng...

Thằng Lam nhoẻn miệng cười chào tôi rồi nó nói cứ như đi guốc trong bụng tôi vậy:

- Chào anh! Em đã được giới thiệu rất đầy đủ về anh rồi. Anh cứ yên tâm mà sáng tác nhạc. Mỗi ngày em sẽ hầu anh đủ ba bữa. Bữa nào anh muốn uống rượu cứ nói sẽ có ngay. Rượu đặc sản Hòa Long "ai đong nấy uống" em ra tận Bà Rịa mua rượu chuối hột bình dân chữa nhức mỏi rượu tắc kè "ông uống bà khen" rượu Tây hương "cỏ nhắc" hương "uých ky" rượu "vốt-ka" của Nga chính hiệu "vốt-ka" sản xuất tại nhà máy Việt Nam hay  hàng dởm... Em có đủ!

Thằng Lam nói một hồi như nó là tiếp viên nhà hàng đang giới thiệu với khách. Thấy tôi tròn mắt dỏng tai ra nghe nó cười hà hà ra vẻ hài lòng lắm.

Trong lúc thằng Lam trút bỏ thực phẩm ra một cái thau nhựa chuẩn bị làm bếp thì anh bạn nhạc sĩ kéo tay tôi ra phía trước căn chòi. Lạ quá ở đây bỗng xuất hiện một cái bể nước rộng được cẩn đá thiên nhiên cả mặt trong lẫn mặt ngoài như ở sân vườn của một đại gia nào đó. Tôi thấy một đàn cá con bơi lượn phía trên mặt bể nước con nào cũng chực phóng lên không. Lại có cả một con đẻn cùng bơi. Nhìn kỹ hơn thì thấy bên dưới đàn cá có một chiếc thuyền đánh cá đang neo đậu.

- Thuyền neo đậu giữa nước. Sao lạ thế?

Anh bạn nhạc sĩ "cá mắm" cười:

- Ông vốn là thằng thông minh mà sao lúc này lại ngu thế hả! Nhìn kỹ đi: Bể có hai lớp nước phải không nào? Lớp bên dưới là nước biển thì thuyền neo đậu đúng không? Còn lớp trên là lớp dầu tràn dầu nhẹ hơn nước phải ở trên chứ. Cá mà ở phía dưới đáy thuyền thì có nguy cơ bị đánh lưới còn vượt lên trên thì lại phải tìm cách thoát khỏi lớp dầu tràn. Nghe hợp lý chưa? Mẹ kiếp! Cái thời ô nhiễm môi trường khắp nơi này. Người chạy trốn sự ô nhiễm. Đi đường nam nữ đều bịt mặt bịt miệng che mũi cứ như bọn ăn cướp giấu mặt. Thì cá chúng nó cũng phải chạy trốn chứ không lẽ nằm yên mà chịu chết...

Tôi chưa hết ngạc nhiên trước câu nói dài dằng dặc của anh bạn nhạc sĩ thì thằng Lam từ trong cái chòi nát thò đầu ra gọi:

- Hai anh vào ăn đi. Xong rồi! Hải sản đặc biệt vừa nóng vừa ngon tuyệt vời! Toàn những thứ chết ươn ngoài bãi biển vì chạy trốn dầu tràn cả đấy! 

Ôi chao! Thằng Lam vừa nói gì vậy? Tôi sẽ phải ăn những món hải sản như thế của nó ư? Không! Tôi nhất định từ chối bằng cách quay lưng bỏ đi. Nhưng cái thằng quỷ đen không tha tôi. Nó chạy ra khỏi chòi nắm cả hai tay tôi lôi sềnh sệch vào chòi khiến tôi suýt đụng đầu vào cái khung cửa thấp. Tôi bực quá vừa lọt người vào bên trong lập tức tôi tung ra một cú đá trúng một cây cột khiến cả cái chòi rung lên rồi sập xuống hoàn toàn.

Tôi lui lại để tránh và... tỉnh dậy.

***

Tôi đứng trước tấm gương nhìn gương mặt mình theo nhiều cách. Đầu tiên tôi nhìn bằng cả hai mắt một mắt lành và mắt kia vừa tháo băng. Tôi thấy rõ gương mặt hốc hác của mình với hàng ria mép đã đâm ra tua tủa sợi đen sợi trắng cùng một cái bóng mờ của toàn gương mặt chồng lên. Tôi bịt con mắt lành nhìn bằng con mắt bị mổ. Gương mặt tôi trong gương không chỉ là cái bóng mờ mà ở phần dưới nơi hàng ria mép và cái cằm hình ảnh lại được phóng lớn lên như nhìn qua kính lúp. Tôi đứng lặng một lúc để suy nghĩ. Tôi hiểu rồi chính bạn cái bọt khí trong mắt tôi đã "lắng" xuống phía dưới nhãn cầu và phần trên của bạn trở thành một cái "kính lúp" đặc biệt. Chị bác sĩ nói rằng chỉ một tuần mươi ngày là bạn sẽ tan đi điều ấy chắc chắn là sai rồi!

Tôi lại cúi gập đầu và nhìn thử một ngón tay của mình. Bây giờ thì bạn bọt khíbạn nằm chính giữa nhãn cầu khiến tôi thấy toàn bộ ngón tay của mình hiện ra to gấp đôi chính nó. Tôi bỗng bật cười một mình khi nghĩ: mình đang nhìn những sự thật được phóng to lên nhưng lại mờ mờ ảo ảo... giống như những gì đang diễn ra trong cuộc sống với không biết bao điều được phóng đại và lẫn lộn thực hư...

Sau bữa điểm tâm tôi uống một viên thuốc Ocuvite Lutein một loại thuốc bổ dưỡng mắt và ngăn ngừa sự thoái hóa của hoàng điểm - nơi tập trung nhiều nhất tế bào thị giác. Tuy nhiên theo các tài liệu nghiên cứu được công bố thì hiệu quả của thuốc này vẫn chưa được xác định rõ. Uống thuốc xong tôi ra nằm trên ghế dựa để tự nhỏ hai giọt thuốc nước khác vào con mắt bị mổ. Nằm im nhắm mắt trên ghế một lúc để thuốc thấm đều tôi nghĩ về giấc mơ và cố giải thích về sự xuất hiện của những nhân vật những tình tiết diễn ra trong một câu chuyện hoàn toàn phi lý.

Anh bạn nhạc sĩ của tôi ở Vũng Tàu là có thật. Hình ảnh của anh trong giấc mơ đúng là hình ảnh thật của anh ngoài đời. Nó không chỉ có vẻ "nghệ sĩ" mà còn trông "quái quái" như nhiều người nhận xét. Cái câu anh đánh giá về tôi: "Ông vốn là thằng thông minh mà sao lúc này lại ngu thế hả!" cũng có thật; anh ta có lần nói với tôi đúng như thế (Tuy nhiên trong trường hợp nào thì tôi đã quên). Nhưng chiếc Attila và chiếc xe đạp thì chưa bao giờ anh bạn tôi có vì hàng chục năm nay anh vẫn lấy chiếc Honda cũ làm chân đi. Trong giấc mơ tôi thấy rất rõ cái tướng gầy đét của anh y hệt ở ngoài đời chỉ có hàng ria bạc thì không đúng vì ngày nào anh cũng cạo râu. Tôi chơi thân với anh dù tính cách chúng tôi có đôi phần khác nhau. Tôi luôn muốn giải quyết công việc đặc biệt là những va chạm mâu thuẫn với người chung quanh bằng một giải pháp "hòa bình" mỗi bên nhịn nhau một tiếng theo lời khuyên của ông bà ta là nên "dĩ hòa vi quý". Còn anh bạn của tôi thì thẳng thừng gạt phăng ý kiến của đối phương sẵn sàng chấp nhận có thêm một kẻ ghét mình thậm chí là một kẻ thù cũng chẳng sao! Có lúc tâm sự với nhau tôi đã đưa ra câu hỏi là không hiểu tại sao chúng tôi lại có thể thân nhau? thì anh cười ha hả trả lời luôn: "Vì ông và tôi hai thằng mình đều là những thằng có tài. Chỉ những thằng có tài thật sự mới phục tài nhau và mới thân nhau mới có thể bỏ qua cho nhau những khác biệt về tính cách và trong sinh hoạt". Không biết có là thiếu khiêm tốn hay không khi nhiều lúc tôi đã thầm nghĩ rằng cái lý sự của anh xem ra không phải là... không có lý.

Cứ theo những gì đã diễn ra trong giấc mơ thì là tôi đi Vũng Tàu để lấy cảm hứng viết một ca khúc về biển. Chuyện này rất đúng với sinh hoạt và ý định hiện nay của tôi: thích đi đây đi đó tìm hứng sáng tác và đang "nuôi" ý tưởng viết một ca khúc về biển.

Cái chuyện dầu tràn trong giấc mơ cũng tương đối dễ giải thích. Thời gian gần đây tin dầu tràn xảy ra khắp nơi trên thế giới và kể cả ở Việt Nam. Báo chí trong nước đăng khá nhiều tin về việc này và tôi cũng vừa nghe tin về một vụ tàu chở dầu bị đụng ở sông Sài Gòn người ta đang phải khoanh vùng ngăn sự lan xa của dầu.

Cuối cùng chỉ còn nhân vật "thằng Lam" là khó giải thích. Nó là hình ảnh được tái hiện trong giấc mơ của người nào mà tôi từng làm việc quen thân hoặc tình cờ bắt gặp trong đời sống? Một thằng bé mười lăm tuổi sống một mình trong cái chòi nát nhặt nhạnh từng con cua con cá bị chết do dầu tràn mà đãi khách... Lại còn chuyện một cái quần cụt hai người thay nhau mặc nữa chứ! Giá mà không giật mình tỉnh dậy giá mà được chủ động trong giấc mơ chắc tôi sẽ cho xuất hiện một nàng Tiên Dung đời mới có thể là nàng sẽ chạy xe Attila đến và đón "thằng Lam" đi...

***

Những ngày nghỉ ngơi bất đắc dĩ khiến tôi bứt rứt không yên. Bình thường tôi đến cơ quan làm việc từ lúc bảy giờ sáng trưa về nhà ăn cơm nếu không có "độ" bia rượu; chiều lại "cắp ô" đi tiếp cho đủ tám giờ vàng ngọc của một công chức. Công việc của một nhạc sĩ phụ trách duyệt và ký nháy trước khi trình sếp ký giấy phép biểu diễn các chương trình văn nghệ hội thi hội diễn... không phải lúc nào cũng có. Nhưng dẫu sao thì chung quanh tôi vẫn còn có những đồng sự cùng phòng nghiệp vụ lúc rảnh rỗi có thể trò chuyện này nọ. Thậm chí cũng có thể mở máy vi tính chơi games. Ở nhà lại chỉ có một mình chưa dám đọc báo không dám xem truyền hình nhiều... để dưỡng mắt tôi đành chấp nhận mở máy nghe đài phát thanh một việc mà khá lâu rồi đã không còn là thói quen của tôi nữa.

Tình cờ lúc tôi mở máy lại đúng giờ phát chương trình đọc truyện cho thiếu nhi. Và truyện được đọc là phần tiếp theo của chuyện cổ tích "Tiên Dung - Chử Đồng Tử". Có thế chứ! Hôm trước tôi đã nghe đoạn đầu của câu chuyện này và chính vì thế nó đi vào giấc mơ của tôi qua chuyện "nối khố" của anh bạn tôi và thằng Lam. Tôi thích thú tự giải thích.

Có tiếng chuông điện thoại bàn reo. Tôi cầm máy nghe.

- Mắt mũi sao rồi? Đã nhìn đời được rõ chưa?

Cái giọng luôn hài hước của anh bạn nhà văn ở Đà Lạt vang lên trong máy. Tôi trả lời theo giọng điệu của anh:

- Mới nhìn đời bằng một con mắt thôi!

- Hì hì! Thế cũng còn sướng chán! Nhiều người chỉ nhìn đời bằng nửa con mắt thì sao! Này! Tuần sau tớ vào thăm cậu đấy! Sẽ đem theo cặp vang Đà Lạt để nhâm nhi. Cậu nhớ tìm mồi nhậu cho phù hợp.

- Tớ bị cấm uống rượu rồi!

- Vang không phải là rượu bố ạ! Đang làm gì đấy?

- Chẳng làm gì cả. Ngồi nghe đọc chuyện cổ tích phát thanh và... chán đời!

- Này! Nhớ đừng có tự tử nhé! Đời còn chán chuyện vui!

- Ừ! Phải sống chứ!

- Thế thì "bai". Cứ tiếp tục nhìn đời bằng một con mắt đi nhé!

- Bai!

Tôi cảm thấy trong lòng nhen lên một chút thư thái. Có những người bạn lạc quan như anh bạn nhà văn ở Đà Lạt thật thú vị. Tôi nhớ đến anh nhớ lần đầu tiên quen anh trong một cuộc họp giao ban các sở Văn hóa trong vùng do tỉnh Lâm Đồng đăng cai tổ chức tại Thành phố Đà Lạt. Là nhà văn nhưng anh cũng công tác ở phòng nghiệp vụ của sở Văn hóa như tôi. Trước cuộc họp đoàn ca múa Lâm Đồng có mấy tiết mục giúp vui. Thật bất ngờ là ca khúc "Sợi khói Đà Lạt" của tôi được trình bày bởi một nữ ca sĩ xứ sương mù khá hay. Tới giờ giải lao tôi thấy có người tìm đến chỗ đoàn chúng tôi hỏi thăm tác giả của bài hát. Tôi nhận là mình. Người hỏi thăm hôm ấy chính là anh bạn nhà văn mà sau này tôi khá thân. Ngay lần ấy anh đã nói với tôi bằng cách nói rất ấn tượng của anh: "Ông ở xứ khác mà viết bài hát về xứ tôi hay bỏ mẹ! Thay mặt vợ và hai con gái tôi gửi lời khen nồng nhiệt và chúc mừng ông". Nghe anh nói năng thì như thế nhưng khi đọc mấy cuốn truyện ngắn của anh tặng tôi lại gặp một con người khác hẳn. Vấn đề nào anh đưa ra trong truyện cũng đều nghiêm túc tâm huyết với những câu chữ tìm mãi cũng không ra một ý tứ hài hước! Sau này càng tiếp xúc nhiều với anh tôi càng có ý nghĩ khác hơn: cả trong những lời lẽ bông đùa của anh cũng hàm chứa những ý tứ hết sức nghiêm túc!

Lại chuông. Nhưng lần này là chuông gọi cửa. Tôi rời khỏi chiếc ghế dựa ra mở cửa. Trước mắt tôi là một chiếc xe gắn máy và hai người phụ nữ bịt khẩu trang đầu đội mũ bảo hiểm. Con mắt nhìn rõ của tôi đã nhận ra chiếc xe gắn máy và cảm thấy nó... quen quen. Còn hai người phụ nữ thì tôi phải che con mắt bị mổ lại mới nhận ra khi họ bỏ mũ và khẩu trang. Một người là chị Thu Trang chủ cửa hàng văn hóa phẩm ở gần sở Văn hóa. Người kia là một cô gái tuổi ngoài hai mươi có gương mặt hao hao chị Trang.

- Chào thầy! Nghe tin thầy bị mổ mắt mẹ con em đến thăm thầy...

Thì ra cô gái là con của chị Thu Trang. Tôi mời khách vào nhà và cố nhớ xem có gặp con gái của chị chủ cửa hàng văn hóa phẩm ở đâu chưa.

- Thầy để em rót nước - Chị Trang giành lấy ấm nước trà từ tay tôi - Cô và cháu đâu rồi hả thầy?

- Bà xã tôi đi làm. Còn con bé năm nay vào đại học cháu lên Sài Gòn học mấy tháng nay rồi...

- Thưa thầy mẹ con em có chút quà biếu thầy để thầy bồi dưỡng sức khỏe...

- Tôi cảm ơn. Nhưng nói thật tôi không có thói quen nhận quà như thế này đâu...

- Thầy đừng ngại. Đây chỉ là tình cảm của mẹ con em thôi. Chắc thầy vẫn chưa nhớ ra con gái em? Nó là Thanh Trúc năm trước em có dẫn đến nhà thầy để nhờ thầy chiếu cố khi cháu dự thi Tiếng hát Phát thanh tỉnh và thầy đã la cho mẹ con em một chặp. Thầy nói là đi thi ca hát thì phải dựa vào tài năng và sự tập luyện chứ không phải là đi xin điểm. Lúc ấy thú thật là mẹ con em ngượng lắm. Ra về mà lòng cứ ấm ức trách thầy là người thiếu tế nhị. Nhưng chính nhờ vậy mà sau mấy ngày bị "sốc" mẹ con em đã nghĩ lại và cháu đã phấn đấu chuyên cần học thanh nhạc. Năm nay cháu đi thi trên thành phố và vừa giành được giải nhì!

Tôi đã nhớ ra. Phản ứng như với mẹ con chị Thu Trang lần ấy thường hiếm khi xuất hiện nơi tôi. Đó mới là lần thứ nhì. Còn lần thứ nhất là tại vòng thi sơ tuyển Tiếng hát Phát thanh năm nọ vào giờ giải lao một nam thí sinh đã đến gặp tôi đang đứng hút thuốc lá ngoài hiên và dúi vào tay tôi một phong bì cùng câu nói nhỏ: "Lát nữa em sẽ thi. Em nhờ thầy nâng điểm để lọt vô vòng bán kết". Tôi đã nổi nóng đẩy cái phong bì về phía chủ của nó rồi chỉ tay vào giữa mặt cậu ta nói như quát: "Cậu về đi! Lát nữa cậu có thi thì tôi cũng đánh rớt!". Anh bạn nhà văn ở Đà Lạt khi nghe tôi kể chuyện ấy đã giải thích: "Ấy là vì cậu thí sinh kia đã không may chạm vào cái phẩm chất thầy thứ thiệt của ông".

Tôi nhìn Thanh Trúc nói với cô gái:

- Chúc mừng cháu!

- Vậy thầy vui lòng nhận quà của mẹ con em chứ? - Chị Trang ngần ngại hỏi.

- Vâng. Nếu đúng chỉ là tình cảm của mẹ con chị dành cho một người bệnh thì tôi xin nhận và rất cảm ơn.

Câu chuyện của chúng tôi xoay quanh việc học tập và phấn đấu để đạt đến ước mơ trở thành ca sĩ của Thanh Trúc. Tôi đưa ra vài lời khuyên dè dặt. Mẹ con chị Thu Trang xin phép ra về sau khi mỗi người cố uống cạn chén trà tôi mời mà họ vẫn để nguyên từ lúc rót ra. Mãi một lúc sau khi họ về khi tôi ngụm một hớp trà mới nhận ra là mình đã pha quá đậm hèn chi mẹ con chị Thu Trang phải "uống thuốc".

Còn lại một mình tôi ngồi ngẫm nghĩ chuyện mình làm giám khảo các cuộc thi văn nghệ. Hơn hai mươi năm làm công việc ấy thật lắm nỗi buồn vui mà tôi nghĩ nếu mình ghi lại có thể được một tập sách dày dặn và hấp dẫn. Có điều những chuyện như chuyện của mẹ con chị Thu Trang thì không có là bao! 

À! Tôi chợt kêu lên thích thú! Chiếc xe của mẹ con chị Trang đi đến nhà tôi là một chiếc Attila. Nó đã tình cờ xuất hiện trong giấc mơ đêm qua của tôi hèn chi mà khi nhìn nó trong thực tế tôi chẳng thấy quen quen...

***