ĐẤT LÀNH CHIM ĐẬU (NHỚ BIÊN HÒA KỲ 1 / Tiếp theo)

Đất lành chim đậu (phần tiếp theo)

Khu nhà tôi ở hồi ấy là một vùng ngoại ô cách khu trung tâm tỉnh lỵ hơn hai cây số người nội ô đi hết dốc Kỷ Niệm đã thấy đường sá vắng vẻ nói chi phải đi thêm hơn cây số nữa lại qua một khu nghĩa trang khu Đài Kỷ Niệm khu Vườn Mít còn vắng vẻ hơn… Sự có mặt của những gia đình người Bắc di cư cũng chỉ làm cho khu vực này bớt hoang vắng đôi chút. Những căn nhà lợp ngói như của gia đình tôi đã hiếm và chỉ có ở phía bên này đường nhà lợp tôn cũng chẳng nhiều nhặn gì mà đa số là nhà lợp lá vách gỗ ván ghép hoặc vách đất trộn rơm! Nắm được nhu cầu ấy cha tôi mở tiệm buôn bán lá lợp nhà cây cừ tre lá buông...

Hàng hóa có hai nguồn cung cấp. Tre và lá buông thì từ miệt Long Khánh chở xuống. Những tấm lá buông được kết lại cao khoảng hai mét thường dùng để quây vách chiều dài nhiều cỡ nhưng đều được gấp hoặc cuộn lại còn khoảng ba bốn tấc vừa dễ vận chuyển mà lưu kho cũng gọn. Tôi nghe một người bạn hàng kể với cha tôi rằng ở vùng Long Khánh giáp với Bình Thuận có cả một rừng cây buông. Đây là một loại cây giống như cây cọ khi già mới trổ bông một lần rồi chết. Lá của loại  cây này được dân địa phương chặt xuống đem phơi vài nắng đến khô thì từ màu xanh ngả qua màu vàng nhạt. Những người khai thác lá gọi tên là “lá buôn” với “buôn” mang ý nghĩa là “buôn bán”. Do giọng đọc Nam bộ “buôn” nghe giống như “buông” nên lâu ngày người ta ghi chép trên sách báo là “lá buông” rồi cứ giữ luôn như thế. Để giữ lá buông khỏi ẩm mốc nhất là vào mùa mưa người ta xông hóa chất bảo quản nên trong kho chứa lá buông bao giờ cũng có mùi khó chịu mà phải mấy tháng sau cả nhà tôi mới “quen” được.

Lá lợp nhà và cây cừ thì cha tôi là “mối” của một vựa lá ở vùng Khánh Hội Sài Gòn. Mỗi tuần họ cho xe tải nhỏ chở hàng về tỉnh Biên Hòa phân phối cho các tiệm “mối” trong đó có nhà tôi. Tôi còn nhớ như in hình ảnh những anh chị công nhân người nào cũng khoác thêm chiếc áo thứ nhì tay đeo găng chân đi giầy ống màu đen đứng thành hàng dài nữ đội nón lá nam đội mũ rộng vành chuyền tay nhau từng tệp lá kết bằng lá dừa nước đã khô có màu nâu nhạt chiều dài hơn một mét từ xe vào đến kho hàng nhà tôi. Cha hoặc mẹ tôi đứng cùng một người áp tải đếm: “Năm mười mười lăm hai mươi...” từng xấp năm lá một lần lượt được xếp cứ vài ba xấp lại trở đầu để chồng lá ngay ngắn không bị đổ. Họ làm việc xong giành nhau uống nước trà đá mẹ tôi pha sẵn thỉnh thoảng còn được chiêu đãi mỗi người vài múi cam hoặc quý hơn là vài múi bưởi chính gốc Biên Hòa. Có lần tôi được cha tôi dẫn theo lên vựa lá ở Khánh Hội được đi đò mà người đưa đò chẳng cần chèo chỉ dùng một cây sào tre dài chống xuống đáy rạch đẩy thuyền đi tới. Không khí sinh hoạt ở vựa lá còn sôi nổi gấp bội cảnh giao nhận hàng ở nhà tôi. Người ta chuyển hàng từ dưới thuyền lớn lên bờ không chỉ có lá dừa nước đã kết thành miếng để lợp nhà mà còn có cả những cây tràm thân mốc thếch những cây tre đủ kích cỡ dài ngắn lớn nhỏ... Xe tải nhỏ hai ba chiếc phải xếp hàng chờ đến lượt “gie” đuôi vào vựa “ăn hàng”. Vậy mà vẫn có một đám mấy người ngồi đánh bài có những người khác xúm quanh bàn nhậu...

Khu ngoại ô gia đình tôi ở được gọi tên là Phúc Hải thay cho cái tên tạm gọi trước đó là Nhà Dù. Theo lời kể của cha tôi thì một năm trước khi chính quyền cho chặt khu rừng cao su phía đối diện nhà tôi để phân chia cho dân di cư làm nhà ở thì họ đã cho làm những căn nhà bằng dù lớn căng lên ở phía khu đất trống cạnh doanh trại quân đội để bà con ngụ tạm. Vì vậy trong một thời gian ngắn khu vực này được gọi là "khu nhà dù" (Ngày nay rất ít người còn biết đến cái tên gọi Khu Nhà dù ấy). Dân di cư được phân bố ở đan xen. Phía bắc quốc lộ 1 kế bên doanh trại quân đội là một khu dân cư tự do phần lớn gia đình theo đạo Phật từ các nơi đến thuê đất ruộng vượt nền cao làm nhà như gia đình tôi. Ở khu dân cư này một ông cư sĩ tên là Cao đã dựng lên một ngôi chùa Phật giáo nhỏ ở cách mặt đường nhựa hơn trăm mét để bà con theo đạo Phật có chỗ cúng bái thờ tự (Những năm sau này bà con đã mời nhiều nhà sư lần lượt về trụ trì và nhiều lần chùa được sửa sang xây dựng nay đã thành một ngôi chùa khang trang là chùa Đức Quang). Hết khu ruộng là vùng đất cao hơn có đường dẫn vào một khu gia binh dành cho gia đình lính sư đoàn 4 thời ấy kế đó là khu dân cư công giáo chính là bà con giáo xứ Phúc Hải ngày nay. Bà con một giáo xứ khác là Tân Hải (nay là giáo xứ Thuận Hòa) ở liền cạnh đó cách một con đường nhỏ mà bà con quen gọi là "đường đất đỏ" kéo dài đến Cầu Đúc (Cầu Tân Hiệp bây giờ) còn phía bên kia suối Máu là khu Bàu Hang khu dân cư của bà con người gốc Biên Hòa. Ở bên kia đường phía nam quốc lộ 1 dân cư cũng ở đan xen. Ngoài mặt đường còn có những người dân tự do mua lại đất nền của dân di cư công giáo được cấp còn phía trong cho đến đường rầy xe lửa toàn là gia đình công giáo sống bằng nghề trồng rau xanh. Vì thế khu này một thời đã có tên là "Khu Vườn rau" mà bây giờ là khu giáo xứ Bình Hải. Bên kia đường rầy ra đến quốc lộ 15 bà con người Nam bộ quần tụ sinh sống và được gọi là "Khu Làng Nam". Có một con đường tắt đi từ quốc lộ 1 qua quốc lộ 15 gần đầu đường lộ 1 có ngôi chùa của phái Phật giáo Tứ Ân gốc từ một tỉnh miền Tây trong sân có đặt tượng một con ngựa nên bà con quen gọi là "Chùa con ngựa"; còn gần đầu đường lộ 15 thì có đình thờ anh hùng chống Pháp Trương Công Định.

Dù thế nào thì lâu dần những người xa lạ là người Nam người Bắc theo đạo Công giáo Phật giáo hay trong nhà chỉ thờ tổ tiên... cũng đã như ông cha ta xưa "bán anh em xa mua láng giềng gần" trở thành hàng xóm ngày một thân thiện nhau hơn. Cha tôi được xem như một người có uy tín của khối bà con Phật giáo được cha Khanh cha xứ Phúc Hải ngày ấy rất quý trọng thường mời vào nhà thờ dự tiệc (Và tôi cũng được cha xứ rất cưng thường gửi cho khi thì trái táo lúc là chùm nho... hoặc cho người dẫn vào sân nhà thờ xem chiếu phim thường là phim cao bồi Mỹ vừa cưỡi ngựa vừa bắn súng). Cha tôi cũng được Hội Đình thờ danh nhân Trương Công Định ở khu Làng Nam mời vào Hội đồng hương chức. Chưa hết ông còn cùng với hai người khác mà tôi thường gọi một người là "cụ Niệm" người kia là ông "Hội Ngữ" vận động bà con thành lập một Hội “tập thiện” và xây dựng ngôi đền thờ Trần Hưng Đạo ở phía đối diện chếch với cổng chính doanh trại quân đội ngày ấy. Chính tại Đền thờ Đức Thánh Trần này cha mẹ tôi đã "bán" tôi cho Thánh đến năm 12 tuổi mới làm lễ chuộc về. Mẹ tôi giải thích mỗi lần đưa tôi lên Đền dự lễ chính vào ngày Hai mươi tháng Tám âm lịch hằng năm: "Vì con bệnh hoạn khó nuôi nên phải bán cho Thánh để ma quỷ nó không dám quấy nhiễu bắt đi. Trước khi đủ mười hai tuổi con vừa là con của cậu mợ vừa là con nuôi của Thánh. Vì vậy con phải đi lễ Thánh thành kính biết chưa?". Tôi không hiểu lắm chỉ biết là đi lễ Thánh tôi thấy mọi người ai cũng trang trọng ít nói hoặc chỉ nói lầm rầm và như đang lạc vào một thế giới nào khác! Tôi luôn ngồi bên cạnh mẹ tôi không rời nửa bước vì nỗi sợ bao giờ cũng xuất hiện trong tôi ngay từ khi bước đến cửa Đền nhìn thấy tượng hai ông Thiện Ác đặt ở hai bên. Thế nhưng khi đến "truờng cô Thư" hoặc những lúc chơi đùa cùng chúng bạn tôi lại rất hãnh diện với chúng nó vì mình là "con nuôi của Đức Thánh Trần"! Đền thờ Đức Thánh Trần có ban Tế lễ mà vào thời gian đầu khi “cụ Niệm” còn sống thì ông là chủ tế. Sau này “cụ Niệm” mất đi thì đến lượt cha tôi chủ tế. Ông may áo dài khăn đóng màu xanh dương có thêu hoa văn trước buổi tế Thánh vào hai mươi tháng tám bao giờ ông cũng tắm gội chay tịnh cả tuần đồng thời ôn tập vòng tay bước chân theo đúng bài bản tế lễ. Có mấy lần tôi đến Đền Đức Thánh Trần xem tế. Ban hội tế ai cũng nghiêm nghị bước từng bước theo tiếng hô ánh mắt và nét mặt trang trọng giữa vòng người đứng xem. Lễ hội diễn ra trong một khoảng không gian nhỏ khói hương nghi ngút và gần như tuyệt đối im lặng khiến đứa trẻ “con nuôi” như tôi dù chưa hiểu biết nhiều và kể cả chưa có niềm tin gì cũng phải nghĩ ngợi về sự tôn kính của người đời sau dành cho vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo…

***

 

Tên chiếc cầu ấy ngày nay là cầu Tân Hiệp nhưng những người sống kỳ cựu trong khu Phúc Hải như tôi vẫn quen gọi là Cầu Đúc. Có lẽ đầu tiên hai chữ "cầu đúc" được dùng để gọi chiếc cầu căn cứ vào phương thức xây dựng cầu để phân biệt với các loại cầu sắt cầu cây; lâu dần đã trở thành tên riêng "Cầu Đúc". Đó là một chiếc cầu bê tông ngang qua đường chảy xuyên quốc lộ 1 của con suối Máu để đổ nước tiếp tục ra sông Đồng Nai cách đó vài cây số đường chim bay. Cầu Đúc ngày xưa chỉ ngắn hơn chục thước chiều ngang cầu cũng không rộng rãi gì vừa bằng chiều ngang quốc lộ với hai làn xe hơi hai thành cầu chỉ cao chừng non thước. Sau này người ta có sửa sang thì cũng chỉ là trải thêm những lớp nhựa đường trên mặt cầu. Mãi gần đây chiếc cầu mới được mở rộng để phù hợp với việc mở rộng quốc lộ 1 từ mười mấy mét lên hơn hai mươi mét.

Nhà tôi ở cách Cầu Đúc non một cây số ngược về phía nội ô Biên Hòa. Phía bên kia Cầu Đúc còn có hai địa danh nổi tiếng cả nước xưa nay: Nhà thương điên Biên Hòa và trại giam Tân Hiệp. Đó cũng là hai nơi gắn với đời tôi bằng nhiều kỷ niệm khó quên.

Ngày ấy con suối chảy dưới chân Cầu Đúc vào mùa nắng nước thường cạn đến đôi khi khô kiệt lộ ra những lườn cát óng ánh ánh mặt trời. Khi mới dọn đến ở khu Phúc Hải tôi còn là một đứa trẻ lên sáu thường có những buổi chiều lén trốn nhà theo chúng bạn lên phía Cầu Đúc xuống lội suối và nghịch cát. Chúng tôi có thể đi bộ dọc theo lòng suối từ đó qua địa phận khu “Làng Nam” rồi đến tận cầu Mương Sao bên quốc lộ 15 mới quay về. Cái thú của chúng tôi là từ dưới lòng suối thấp chúng tôi nhìn ngược lên hai bên bờ có nơi là vườn tược có nơi là ruộng đồng có nơi là phía sau nhà dân mà nếu có điều kiện chúng tôi sẵn sàng thót lên bờ hái trộm một thứ trái cây nào đó hoặc dầm ruộng bắt cá lòng tong về nuôi...

Buổi chiều một ngày đầu tháng 12 năm 1956 đang ngồi chờ cơm tôi nghe có tiếng súng nổ phía Cầu Đúc. Một lúc sau thì lại nghe người lớn kháo nhau: "Tù vượt ngục ở Trung tâm Cải huấn họ chạy được nhiều lắm nhưng cũng có nhiều người bị bắn chết...". Đứa trẻ sáu tuổi như tôi ngày ấy không thể biết gì về chuyện người lớn chỉ biết "tù vượt ngục" và "có nhiều người bị bắn chết" nghe ra đầy hấp dẫn và gợi sự tò mò. Sáng hôm sau vừa ra cổng tôi đã thấy mấy đứa bạn thập thò rủ đi xem "người chết". Chúng tôi mau chóng đến Cầu Đúc và thấy ở phía bên kia cầu đã có nhiều người lớn đứng lố nhố hướng mắt về khoảng đất trống của sân banh bên đường đối diện cổng Trung tâm Cải huấn Tân Hiệp. Tôi chen lấn tìm một chỗ để xem. Trên khoảng đất sân banh ấy nhiều xác người nằm đó đang được lính tráng xếp lại thành hàng. Tôi đoán đó là "tù". Một lát thì lại nghe người lớn nói chuyện với nhau "họ là tù chính trị" "họ là Việt Minh" nhưng tôi không hiểu gì cả.

(Có hai điều tôi hoàn toàn không ngờ là:

Một khi tốt nghiệp dược sĩ tôi mở nhà thuốc tây và trong một thời gian đã cung cấp thuốc cho những người tù trong Trại giam Tân Hiệp thông qua một vị linh mục tuyên úy vào làm lễ cho tù nhân hàng tuần. Vị linh mục này nhận những thư kể bệnh của tù nhân được viết trên giấy báo gói bánh mì giấy lót đáy bánh bao giấy gói xôi... bằng bút chì hay bút bi rồi chuyển cho tôi. Căn cứ vào các “thư kể bệnh” đó tôi soạn thuốc và viết giấy hướng dẫn cách dùng cho tất cả vào hộp các-tông giao lại cho vị linh mục chuyển cho tù nhân. Tù Tân Hiệp vào những năm 70 đa số là tù chính trị cộng sản có sinh viên học sinh đấu tranh phản chiến có. Chính vì thế mà hồi tháng 3/1975 cảnh sát xã Bình Trước đã gọi tôi tới trình diện và nhắc nhở “không nên tiếp tục việc đang làm”! Sau ngày giải phóng có người bảo tôi nên “báo công” nhưng tôi không làm vì đó chỉ là một hành động nhân đạo của một người làm nghề y tế còn tràn đầy nhiệt huyết với nghề và với đời như tôi.

Hai là hai mươi bảy năm sau vào năm 1983 khi từ giã đơn vị dược để chuyển về công tác tại Hội Văn nghệ tỉnh Đồng Nai tôi đã gặp và làm việc dưới quyền một người tù vượt ngục ngày xưa ấy: nhà văn Lý Văn Sâm chủ tịch Hội. Sau này tôi còn có nhiều dịp gặp bác Nguyễn Trọng Tâm người lãnh đạo cuộc vượt ngục cùng nhiều người tù ngày xưa ấy trong công tác và đời thường).

 

***

 

Sau này cha tôi xin được làm đại lý (quen gọi là đề bô) bán bia nước ngọt nước đá bẹ cho hãng BGI có cơ sở chính ở đường Hai Bà Trưng Sài Gòn. Cùng với trào lưu xã hội dần ổn định và kinh tế tương đối phát triển ngày ấy cha tôi cho sửa nhà thay vách gỗ bằng tường gạch đặc biệt làm lại nền xi măng thật chắc để đủ sức chứa những thùng bia nước ngọt nặng nề được xếp từng chồng cao quá tay với của một người lớn. Phía trước nhà cha tôi treo tấm biển hiệu "Đề bô Thanh Hải" để nhớ về quê ông: làng Hải Triều thôn Thanh Triều.

Hàng tuần hãng BGI cho xe chở bia và nước ngọt từ Sài Gòn đến Biên Hòa để phân phối cho các đại lý của mình. Một người đại diện của hãng mà tôi nghe người lớn gọi là "thầy ký" đi đến trước để làm sổ sách hóa đơn. Khi xe chở bia và nước ngọt đến người áp tải chỉ việc bỏ hàng xuống theo số lượng đã ghi và nhận thùng vỏ chai không tương ứng lên xe. Bia chỉ có một loại "Con cọp" nhưng nước ngọt thì khá phong phú nào nước cam đỏ nước limônát trong veo nước bạc hà xanh nước kem sô đa vàng nhạt nước xá xị nâu đỏ nước sô đa lắm bọt. Sau này tôi thấy đề bô của cha tôi còn nhận mua hàng của hãng SEGI ở bến Vân Đồn khu Khánh Hội Sài Gòn với các mặt hàng nước ngọt như nước cam vàng Côcacôla "bialây" (nước cam ép không ga)...

Thời ấy ngành chế biến nước giải khát chưa có sự cạnh tranh mạnh. Hãng BGI của Pháp được xem là lớn nhất và độc quyền về bia. Hãng SEGI nhỏ hơn của Mỹ thì phải số mặt hàng nước ngọt tham gia thị trường không nhiều. Riêng có hãng Phương Toàn của người Hoa với lôgô “con nai” thì có hướng vươn lên. Họ cũng sản xuất nhiều thứ nước ngọt tương tự hãng BGI trong đó nước xá xị “con nai” có mùi vị thuốc Bắc khá nổi tiếng sau này họ còn làm đại lý cho hãng Pepsicôla đối thủ chính của Côcacôla. Chính vì vậy mà khá nhiều đề bô loại trung bình như của cha tôi bị hãng BGI ràng buộc không được nhận hàng của hãng Phương Toàn về bán. Theo tôi được biết thì cả tỉnh lỵ Biên Hòa chỉ có đề bô Phúc Chấn Xương ở bên chợ Kỷ Niệm là đại lý lớn nhất nhì tỉnh lỵ mới dám nhận phân phối nước ngọt cho hãng Phương Toàn.

Nước đá bẹ được gọi theo đơn vị "cây" có thiết diện chừng 2x3 tấc và dài hơn một thước. Chính hãng BGI cũng cho xe chở nước đá từ Sài Gòn xuống Biên Hòa bán cho các đại lý của mình. Xe chở nước đá có thùng xe đóng bít bùng gồm một người tài xế và một người áp tải kiêm giao hàng. Khi cửa sau xe mở ra hơi lạnh tỏa ra theo từ xa nhìn như có lớp sương mù rất đẹp đang phủ kín anh áp tải. Một tay bợ vào vị trí khoảng 1/3 phía trên của cây nước đá tay kia cầm cái móc móc vào đầu còn lại anh áp tải di chuyển cây nước đá nhẹ nhàng từ xe đậu ngoài lề đường vào các bể chứa cho khách.

Biên Hòa cũng có hãng nước đá làm đá bẹ như của hãng BGI nhưng sản lượng thấp chất lượng cũng kém hơn: có những bẹ đá còn đục màu ngà thay vì đúng chuẩn là phải trong suốt nhiều bẹ ở một đầu đọng cả cặn bẩn và có vị mặn của muối lọt qua khuôn vào. Hãng nước đá này nằm trong một khu đất phía ngoài nhà ga Biên Hòa. Vào mùa nắng khi nào bán hết số nước đá nhận mối từ hãng BGI cha tôi bảo anh giúp việc đạp xe ba gác lên ga Biên Hòa mua thêm nước đá “hãng nhà” thường là phải với giá cao hơn một chút.

Ở nhà tôi để chứa nước đá cha tôi cho xây hai cái bể chứa bằng gạch tô xi măng chiều dài một thước sáu chiều ngang vừa xếp ba cây nước đá sát nhau mà vẫn còn dư mỗi bên một tấc để nhồi trấu thật chặt vào ủ giữ lạnh. Tôi vẫn thường xin cha tôi mỗi ngày một chai nước ngọt đem vùi vào bể chứa nước đá gọi là "lát xê" lúc lấy ra khui chỉ uống không cũng mát lạnh rất ngon. Bù lại công việc của tôi là mỗi ngày phải phụ người giúp việc "dũi" trấu tức là đảo lớp trấu ướt phơi ở sân sau bằng đôi chân "dũi" qua "dũi" lại hoặc bằng cái bồ cào gỗ răng thưa.

 

***

 

Đề bô Thanh Hải của cha tôi có một khách hàng quen: bác sĩ Nguyễn Tuấn Anh Giám đốc Nhà thương điên Biên Hòa ngày ấy. Chính ông cũng là vị bác sĩ chăm sóc sức khỏe cho tôi tận đến năm tôi 15 tuổi trở thành một đứa trẻ bình thường như chúng bạn - trừ quả tim hầu như không phát triển thêm bao nhiêu và lúc nào cũng sẵn sàng đập loạn nhịp.

Bác sĩ Tuấn Anh có phòng mạch tư ở khu phố ngang dốc Kỷ Niệm. Ông có rất đông thân chủ vì với những người nghèo ông khám bệnh cho toa mà không nhận tiền thù lao. Bệnh nhân của ông từ các nơi trong tỉnh Biên Hòa ở cả tỉnh Bình Dương kế cận đặc biệt là những người ở các vùng nông thôn có mặt ở phòng đợi rất sớm để lấy số chờ đến lượt mình được vào khám bệnh. Định kỳ mỗi tháng một lần tôi được cha tôi đưa đến phòng mạch tư của bác sĩ Tuấn Anh khám sức khỏe tổng quát và nhận toa thuốc ra nhà thuốc tây gần đó mua về uống bồi dưỡng. Khoảng sáu giờ sáng chúng tôi mới đi xe lam đến. Bệnh nhân đến trước ngồi đợi dễ chừng không dưới hai mươi người trên tay người nào cũng có một miếng thẻ ghi số thứ tự. Nhưng cứ khi tôi đến thì chị y tá lại rời chỗ ngồi của mình sau cái bàn phủ "ra" trắng để dắt tay tôi vào phòng khám ngay khi có một bệnh nhân vừa khám xong đi ra. Chị nói với mọi người: "Em này là người nhà của bác sĩ".

Bác sĩ Tuấn Anh rất lịch sự ngay cả với một đứa trẻ như tôi. Ông vừa khám bệnh vừa hỏi chuyện học hành và vui chơi của tôi như một người cha hỏi han đứa con yêu của mình. Tôi được biết ông cũng có một người con trai bằng tuổi tôi. Có lần ông hỏi tôi lớn lên thích làm nghề gì? Tôi trả lời ngay không cần suy nghĩ: "Cháu muốn làm bác sĩ". Ông cười rất tươi và dặn: "Nếu thế thì cháu phải chịu khó học thật giỏi". Mỗi khi chị y tá chích thuốc vào mông tôi lại ngoái đầu lại để xem. Bác sĩ Tuấn Anh lại cười cười bảo: "Thế mới làm bác sĩ được". Tôi không nói gì vì thực ra tôi hay bị giật mình cứ phải nhìn tận mắt lúc nào chị y tá phóng cây kim vào mông mới yên tâm tuy cảm giác đau nhói vẫn có.

Trên đường từ phòng mạch tư trở về nơi làm việc ngang nhà tôi bác sĩ Tuấn Anh thường dừng xe tháng đôi ba lần để mua nước sô đa hay nước suối Vĩnh Hảo đóng chai về uống. Một lần ông bảo tôi lên xe rồi chở tôi vào Nhà thương điên. Thấy tôi có vẻ sợ ông trấn an: "Bác sĩ không để cháu gặp những người bệnh nặng đâu. Có điều cháu cần biết là: muốn làm bác sĩ thì cháu phải tiếp xúc với mọi loại bệnh nhân chứ không được phép chọn lựa". Lần ấy tôi được dẫn đi một vòng quanh Nhà thương điên chủ yếu là những phòng làm việc phía ngoài con suối Máu chảy dọc theo khu vực và một hai trại bệnh ở phía bên kia suối. Tôi nhìn thấy những người điên nhẹ mặc đồng phục đi lại cùng những người bác sĩ y tá mặc áo choàng trắng. Người nào cũng kính cẩn khi gặp bác sĩ Tuấn Anh.

Tôi quên cả sợ hào hứng nói với ông:

- Cháu sẽ học làm bác sĩ rồi về đây chữa bệnh cùng bác sĩ.

Ông cười rất tươi với tôi:

- Nhưng không chừng lúc ấy thì bác sĩ đã già đã nghỉ hưu mất rồi!

(Mơ ước của tôi và dự đoán của bác sĩ Tuấn Anh chẳng bao giờ là sự thật vì tôi chỉ thi đậu vào trường Dược ra trường lại quay qua đi viết văn làm báo! Những lần trở lại nơi này chỉ là những lần liên hệ công tác).

 

***