TT Người có một thời (5)

Người có một thời

Tiểu thuyết 

 

V

ĐÔI GIÀY ĐÁNH XI NÂU

 

Ở khu vực quanh chợ Biên Hòa người ta gọi cậu Năm của Lắm là ông Năm Thủy Triều. Thủy Triều là tên bảng hiệu đề bô la-ve nước ngọt của ông. Đó là một người đàn ông trạc bốn mươi ngoài vẻ mặt không có gì đặc sắc ngoài cặp mắt nhìn thẳng sáng như sao. Năm Thủy Triều thường mặc bộ pygiama xanh nước biển khá hợp với cái tên bảng hiệu của ông đầu chải briăngtin bóng lộn đeo đồng hồ Willer chuyên đi dép Nhật cũng màu xanh. Ngày Toàn ẵm thằng Hảo tìm tới đề bô Thủy Triều anh hỏi thăm một cậu trai đang xếp két nước ngọt lên xe ba gác và được chỉ về phía bàn buyrô sơn màu xanh có ông Năm Thủy Triều ngồi đang tính sổ. Toàn bước tới chào ông chủ và đưa lá thư của Lắm. Ông Năm Thủy Triều chưa coi thư đã lăng xăng lấy ghế mời Toàn ngồi. Rồi ông lấy kính lão ra đeo đọc thư. Ông nhìn Toàn nhiều thông cảm nhưng không nói gì với anh chỉ quay vào gọi vợ ra. Bà Năm người mảnh mai có nét hao hao bà chủ nhà cũ của Toàn ở Cầu Bông có thể là ở cái miệng móm mau miệng chào Toàn và đợi nghe chồng dặn dò. Ông Năm bảo vợ:

- Chú em đây là bạn thân của thằng Lắm chú đang sa cơ thất thế cần tới mình. Bà đưa cháu ra sau thu xếp chỗ ăn nghỉ trước đã rồi mình với chú sẽ tính chuyện sau.

Cách đối xử của ông Năm Thủy Triều thật đáng ngạc nhiên mà chỉ sau này Toàn mới tự giải thích được.

Giống như Long An ở sát nách Sài Gòn về phía Tây Biên Hòa ở sát nách Sài Gòn về phía Đông. Tỉnh lỵ của tỉnh Biên Hòa thời gian này đặt tại khu vực ven bờ sông Đồng Nai nhà cửa phần lớn được xây dựng từ thời Pháp. Ở kề bên Sài Gòn nhưng cái không khí ồn ào sôi động của Sài Gòn không hề ảnh hưởng tới cái tỉnh lỵ nhỏ bé này. Biên Hòa vẫn mang đầy đủ cái dáng vẻ hiền lành dân giã của nó. Đêm về đường phố ít người qua lại. Ngày ngày sinh hoạt ở đây cũng chỉ bằng ở một vùng ngoại ô Sài Gòn đều đều và buồn chán. Căn nhà gác gỗ của ông Năm Thủy Triều được cơi lên từ một căn nhà cũ xây thời Pháp. Phía dưới ông Năm dành chỗ làm đề bô: một cái bàn buyarô một cái hầm nước đá cao lút đầu người và trấu ủ nước đá lúc nào cũng âm ẩm còn lại bao nhiêu diện tích là chỗ xếp từng chồng từng chồng két la-ve nước ngọt đủ loại két có nước và két vỏ không xếp riêng. Gia đình ông Năm gồm hai vợ chồng và đứa con trai ở cả trên gác. Cha con Toàn được xếp cho một chỗ nghỉ có giường tủ và bàn riêng chiếm một phần nhà sau kế bếp và khu nhà vệ sinh. Với Toàn trong hoàn cảnh này như vậy đã là quá đầy đủ.

Ông Năm Thủy Triều sắp xếp công việc cho Toàn. Với lý do Toàn là cháu dưới quê lên ông Năm cho cậu giúp việc cũ nghỉ. Toàn áy náy thì ông nói: “Chú em yên tâm qua có cho thêm ít tiền gọi là bồi thường thẳng vui vẻ nhận rồi”. Toàn không thể không cảm kích lòng tốt của chủ nhà mà trong thâm tâm anh không những anh coi như một ông chủ mà còn như một người chú. Toàn gọi ông Năm Thủy Triều bằng “Chú Năm” và xưng con với ông dù nhiều lần ông đã nói: “Gọi qua bằng chú cũng được nhưng cứ xưng tôi thôi”. Việc của Toàn khá đơn giản ngày ngày đạp chiếc ba gác - lại cũng loại xe ba bánh giống như xích lô chở nước đá la-ve nước ngọt đi bỏ mối cho các mối hàng của đề bô Thủy Triều ở rải rác nhiều nơi trên các đường phố quanh khu vực chợ Biên Hòa. Thông thường cứ gần trưa là Toàn làm xong việc buổi chiều anh ở nhà phụ ông bà chủ bán lẻ cho khách tới mua tại chỗ thỉnh thoảng mới phải chở một chuyến hàng đặc biệt cho đám xá lễ lộc chi đó. Những bữa cơm trừ bữa sáng Toàn ăn riêng anh và thằng Hảo được ngồi chung mâm với gia đình chủ. Bà Năm hiếm hoi được cậu con trai tên Thanh Sơn năm đó mười hai tuổi bà có vẻ thích có một đứa con gái tạm bằng lòng với thằng Hảo ở cái tuổi hăm mấy tháng khá dễ thương bà đã không phân biệt chủ tớ lo cho thằng Hảo tươm tất manh quần tấm áo coi sóc nó những lúc Toàn không có nhà. Toàn thầm cảm ơn Lắm đã giới thiệu mình tới một gia đình nhân đức. Anh dành dụm tiền lương tháng mong có ngày gặp lại Lắm sẽ hoàn trả thằng bạn số tiền tương đương số tiền anh đã bán hai cái răng vàng để chi tiêu trong những ngày thu xếp rời khỏi căn nhà ẩm khói nơi xóm Cầu Bông...

Đề bô Thủy Triều nằm trong khu thị tứ phía bên này con đường chạy quanh chợ gần một bến xe ngựa và một rạp hát nhỏ. Toàn làm quen dần với vùng đất mới. Nơi đây có nhiều nét khác với cái xóm Cầu Bông chật chội nghèo nàn của anh. Dòng sông Đồng Nai không xa khá rộng mùa nước nổi mặt sông rộng mênh mông đục ngầu phù sa mùa nước dòng sông trong xanh màu trời hiền hòa. Những con đường phủ bóng mát những tàn dầu cổ thụ mùa bông trái những trái dầu rơi bay bay trong gió hấp dẫn cả trẻ con lẫn người lớn. Những ngôi nhà ngói tường vàng cửa vòng cung vừa cổ kính vững chắc vừa cố theo kịp thời đại với mặt tiền được sửa sang lại. Xích lô ở đây ít thấy hơn xe ngựa những chuyến xe ngựa chở đầy khách với gánh gióng lủng lẳng đằng sau con ngựa gõ móng lóc cóc trên đường người đánh xe thỉnh thoảng lại thúc cương “Hê hê” hoặc quất cái roi dài đen đét. Tỉnh lỵ vừa mang dáng thị tứ vừa mang dáng nông thôn. Ở đây cũng đầy chuyện đồn đại chuyện hoang đường. Nào chuyện ông nhà giàu nọ trước kia vốn chỉ là một anh lái đò trong trận lụt năm Thìn đã nhặt được một hộp vàng của người nào đó tránh lụt bỏ quên trên đò mình từ đó anh ta có vốn làm ăn mà phất lên. Chuyện một anh chàng làm công giữa trận hỏa hoạn chủ nhà ném cho hộp nữ trang nhờ cất giữ sau đó đã đoạt luôn số của cải ấy mà xây dựng cơ ngơi riêng... Ông Năm Thủy Triều cũng có dư luận đồn đại về sự phất lên khá đột ngột bằng câu chuyện ông đã tìm được một số vàng khi phá bức tường nhà sau để sửa sang lại. Chính nhờ số vàng đó mà ông Năm đã chuyển kế hoạch nới rộng nhà sau làm chỗ ở thành kế hoạch làm nhà gác gỗ và khuếch trương đề bô. Một tối trong khi trò chuyện vui vẻ Toàn đã hỏi ông Năm chuyện đồn đại kia ông Năm cười cười không đáp mà hỏi ngược lại anh: “Chớ chú em có tin lời đồn đại đó không?”.

Một đôi khi vết thương cũ trong lòng Toàn cũng sưng tấy lên. Đâu phải dễ dàng gì người ta có thể quên đi một dĩ vãng đớn đau đã làm tan mất cuộc sống ổn định trước đó. Cái rạp hát gần đề bô Thủy Triều là một rạp hát bình dân chuyên chiếu phim Ấn Độ có những cô đào đeo vòng nơi lỗ mũi vẽ con mắt thứ ba chính giữa trán và những bài ca chiếm nhiều thời gian. Phim Ấn Độ trước kia vốn là loại phim Huệ thích coi nhắc Toàn nhớ lại tuần trăng mật khoảng thời gian hạnh phúc lẫn lộn thực hư của hai người nơi khách sạn Hoàng Tử. Chỗ nghỉ ngơi của cha con Toàn một khoảng không gian không đến nỗi nhỏ hẹp và u tối nhưng cũng là một chỗ gần nhà bếp với cái trần nhà ám khói. Đó là một hình ảnh khơi gợi lại căn buồng ám khói anh đã cùng Huệ chung sống ở xóm Cầu Bông... Nhưng khi dĩ vãng chợt về Toàn hay dẫn thằng Hảo đi bộ ra bờ sông để nhờ cái khoáng đạt của đất trời cái êm ả của dòng nước xoa dịu đi cơn đau nhức trong lòng. Anh tự bảo mình phải cố quên đi dĩ vãng. Anh đành chấp nhận cuộc sống mới nơi ở mới những người thân quen mới và biết đâu một tình yêu mới sẽ bất ngờ đến với anh? Những gì đã xảy ra dưới hiên rạp hát Casinô trên hè phố ngang cổng nhà thương Sài Gòn ở khách sạn Hoàng Tử tại xóm Cầu Bông cái mảnh giấy “Dĩnh biệt anh” ghim trên võng hai cái răng cửa bịt vàng... cứ theo thời gian giống như trái bóng của thằng Hảo một buổi chiều nó lỡ tay đánh rớt xuống sông bềnh bồng theo dòng nước trôi đi xa xa mãi... Thực tế của Toàn là một buổi sáng ngồi trên chiếc xe ba gác chở la-ve nước ngọt nước đá đi quanh phố xá Biên Hòa bỏ mối là những chiều ông Năm Thủy Triều đóng cửa đề bô anh dẫn con đi chơi bờ sông là một tối nào đó thả rong về khu xóm có nhiều cô gái như cô gái ở căn nhà tôn xóm Gò Vấp; là thỉnh thoảng nhận thư của Lắm gởi tới đọc rồi viết thư cho bạn thỉnh thoảng mở cái bọc tiền để dành ra đếm và nuôi lớn vài ước mơ...

Một bữa cơm trưa ông Năm nói với Toàn:

- Tối nay chú em để thằng nhỏ cho bà Năm coi chừng chú em đi với qua lên Khánh Hội.

- Sao lại đi Khánh Hội vào buổi tối hả chú Năm?

- Có chi đâu hãng nước ngọt SEGI mời mình dự lễ giới thiệu mặt hàng giải khát Côcacôla họ mới sản xuất sẵn xe còn dư chỗ qua muốn rủ chú em đi luôn cho vui...

Chiếc xe còn dư chỗ mà ông Năm dành cho Toàn tới đậu trước cửa đề bô Thủy Triều lúc sáu giờ chiều. Toàn nhìn ra choáng váng. Đó là một chiếc xe “con cóc” hai ngựa sơn màu trắng đục. Từ trên xe bước xuống là một người gần hết tuổi trung niên mặc bộ đồ vét màu cà phê đeo cặp kính gọng vàng trê trễ trên sống mũi cao! Toàn tưởng chừng đất trời sắp sụp đổ khi nghĩ rằng đây chính là chiếc xe và con người mà theo lời kể của anh bồi nhà hàng LaPagốt đã đón Huệ đi khỏi Sài Gòn đã đoạt Huệ khỏi vòng tay lực lưỡng mà yếu đuối vì sự nghèo khổ của mình. Nếu đúng là như vậy thì quả đất trời xui khiến và đau đớn thay Toàn đang ở một vị thế hoàn toàn thua kém. Lát nữa đây ông Năm sẽ giới thiệu với khách - bạn của ông - rằng Toàn là người làm công của ông. Người đàn ông đeo kính gọng vàng kia sẽ ném cho anh một cái liếc mắt ân huệ và chẳng thèm để ý gì tới anh. Nhục nhã quá!

Ông Năm Thủy Triều đã giới thiệu ngay khi hai người vừa tới bên chiếc xe “con cóc”:

- Xin giới thiệu với anh Ba đây là thằng cháu ruột của tôi. Nó tên Toàn - Ông quay qua Toàn - Chào chú Ba đi cháu chú Ba đây là dân biểu Quốc hội lập hiến...

Thêm một chi tiết nữa làm Toàn thấy đất trời sắp sụp đổ. Một ông dân biểu - địa điểm ngang hông nhà Quốc hội - chiếc xe con cóc - cặp kính gọng vàng. Tất cả đều trùng hợp với câu chuyện của anh hồi nhà hàng LaPagốt một cách kỳ lạ. Điều mà Toàn chờ đợi cái điều mà anh cho là tiếng nổ cuối cùng trên trời cao trước khi nhân loại bước vào cuộc tận thế chẳng bao lâu nữa sẽ xảy ra. Ông Năm Thủy Triều ngồi chưa yên chỗ đã hỏi:

- Ủa nghe anh Ba nói có cho chị Ba đi mà sao không thấy?

Toàn nghĩ trong đầu “tình địch của ta đây sao” trong khi người đàn ông có mái tóc muối tiêu đáng tuổi cha chú anh trả lời ông Năm với giọng rõ là của một người già thiếu sinh lực:

- Có chớ anh Năm... Bả ghé nhà người quen một lát xe chạy ngang tôi sẽ đón...

Chiếc xe “con cóc” bắt đầu chạy. Gió chiều lúc đầu làm Toàn thấy dễ chịu chỉ một phút sau đã len lỏi chạy dài sống lưng anh lạnh buốt. Chỉ vài phút nữa thôi Huệ sẽ xuất hiện người đàn ông kia cái lão già sắp chết có số đào hoa kia sẽ với tay mở cửa xe cho Huệ bước lên. Ông Năm Thủy Triều chào Huệ là “chị Ba” Huệ gật đầu chào lại và đôi mắt cùng cái miệng có chiếc răng khểnh dễ thương sẽ hướng về phía Toàn... Băng giá chạy khỏi sống lưng Toàn lan ra hai cạnh sườn lan tới đôi tay anh. Máu trong cơ thể anh đóng băng. Người anh biến thành pho tượng. Tiếc rằng đôi mắt anh vẫn phải nhìn cảnh vật phía trước: người người qua lại trên đường phố vào buổi hoàng hôn lẫn nắng cuối ngày và bóng tối. Tiếc rằng đầu óc anh vẫn tỉnh táo để nhận ra chiếc “con cóc” đã chạy chậm lại rồi nó từ từ ghé vào lề đường trước một ngôi nhà ngói tường vàng cổ kính. Đứng trước cổng là hai người đàn bà đang chia tay nhau. Một trong hai người - một bà đứng tuổi - bước về phía xe vén áo dài khom người vào ngồi cạnh ông Ba dân biểu. Bà ta quay xuống chào ông Năm Thủy Triều:

- Mạnh giỏi chớ anh Năm? Sao hổng cho chị đi?

- Bà nhà tôi có đời nào chịu đi đâu chung với tôi. Xin giới thiệu với chị Ba đây là thằng cháu ruột của tôi...

Toàn đã tỉnh hồn. Anh líu ríu đáp: “Chào thím con thứ hai” khi nghe người đàn bà đứng tuổi hỏi: “Chào cậu cậu thứ mấy”.

Chiếc xe lao đi trong bóng hoàng hôn. Ông Ba dân biểu mà giờ đây Toàn đã xác định rõ không phải là tình địch của mình là một tay chạy xe không xoàng. Đuờng chập choạng tối và tuổi tác của ông không còn ít nhưng ông vẫn chạy xe với tốc độ cao miệng luôn bắt chuyện khi thì với ông Năm khi thì với vợ đôi lúc cũng hỏi chuyện Toàn. Ông ta ăn nói hoạt bát có điều giọng nói của ông cho thấy sức khỏe của một người già trước tuổi không thể cải thiện khá hơn. Một chút ân hận thoáng qua lòng Toàn. Dĩ vãng vẫn chưa chịu buông tha anh. Có chăng nó chỉ tạm lắng xuống đáy lòng anh vì chưa bị khuấy động vậy thôi. Huệ! Huệ! Người vợ của anh người con gái có cái cổ cao ngăm đen... Huệ vẫn mãi theo đuổi anh vẫn mãi làm khổ anh mà...

Sài Gòn đèn phố sáng trưng. Khánh Hội nằm bên kia sông có những khoảng tối xen lẫn từng vùng sáng đèn đường. Chiếc xe “con cóc” đưa bốn người tới trước cửa hãng nước ngọt SEGI trang hoàng rực rỡ nào đèn màu nào cờ xí. Một mẫu chai nước giải khát Côcacôla cao chừng ba thước được dựng trước cổng ra vào có hai cô gái thật xinh đứng cạnh một cô gài vào ngực áo từng khách hàng chiếc nơ xanh có in dòng chữ Côcacôla còn cô gái kia lịch sự trao tận tay khách một tờ chương trình buổi lễ và một tấm vé số Tombôla xổ liền sau buổi lễ.

Toàn lạc vào một thế giới không phải của anh. Trong hội trường có đến hơn ngàn ghế nệm bọc da đỏ chói người ta đi lại ngồi cắn hạt dưa chuyện trò sôi nổi. Nhóm của ông Năm Thủy Triều vừa bước vào hội trường đã có một thanh niên mặc đồng phục quần đen áo trắng dài tay ngực thắt nơ xanh niềm nở bước tới hướng dẫn vào chỗ ngồi ở hàng ghế thứ năm. Không đầy năm phút sau một cô gái mặc áo dài xanh diễm lệ bước tới với cái khay trên tay đựng bốn chiếc bánh bao bốn bao hạt dưa và bốn chai Côcacôla khui sẵn có ống hút. Cô gái mời ba người lớn tuổi bằng giọng dịu dàng riêng với Toàn cô không quên gởi thêm cho anh một nụ cười thật duyên. Toàn đỏ mặt như một cậu trai mới lớn. Không. Hơn thế anh đang có cảm giác ngượng ngùng. Chung quanh anh đúng là một thế giới khác. Đàn ông phần lớn mặc đồ vét đàn bà mặc áo dài cổ mặc đồ âu mốt mới nhất có trẻ con đi theo người lớn đứa nào cũng ra dáng con nhà giàu có sang trọng. Từ trên sân khấu dưới tấm băng rôn đính trên phông: “Lễ giới thiệu nước giải khát mới Côcacôla” một dàn nhạc đang chơi những bản nhạc nhẹ dưới sự chỉ huy của một nhạc trưởng mặc áo đuôi tôm tóc tai bù xù như tổ quạ. Tiếng nhạc tiếng nói cười những gương mặt nhiều mỡ những đôi mắt vẽ xanh mùi nước hoa đắt tiền mùi phấn son và cả cái mùi hăng hăng thơm thơm của nước Côcacôla tràn ngập khoảng không gian hội trường. Toàn nhìn lại mình: một anh thanh niên đầu chải nước lạnh rẽ ngôi chưa thẳng cái áo sơ mi trắng ngắn tay bỏ ngoài cái quần xanh ka ki học trò chân xỏ đôi dép Nhật cũ mòn cổ không đeo dây chuyền tay không đeo đồng hồ và mọi cử chỉ thì vụng về. Miếng giấy nhỏ dưới đáy cái bánh bao anh không biết phải để lại trên đĩa hay bỏ xuống đất cái ống hút thỉnh thoảng lại chìm xuống miệng chai Côcacôla làm anh lúng túng lấy lên bằng ngón tay út thô kệch. Nghe ông Ba dân biểu bình luận với ông Năm Thủy Triều: “Ban này chơi bài Palôma thì khá nhưng chơi bài Đanuýp Lơ thì lại kém”. Toàn cứ ngẩn ra như một chú nhỏ mới tới trường lần đầu tiên. Cái thế giới không phải của anh. Toàn lặng người đi khi nghĩ rằng đó lại chính là cái thế giới Huệ muốn tìm tới. Kia một gã người Pháp có lẽ là chủ hãng nước ngọt đang bước lên sân khấu. Gã có cái trán hói và cái lỗ mũi dòm miệng thật khó nhìn nhưng mọi người đều vỗ tay theo từng bước đi chậm rãi của gã. Tiếng vỗ tay lập tức im đi cả hội trường cũng lập tức chìm vào im lặng trong một phút khi gã người Pháp lấy trong túi áo ra một tờ giấy chuẩn bị đọc. Gã đọc diễn văn bằng tiếng Việt khá sõi và mỗi lần bên dưới vang lên tiếng vỗ tay sau một đoạn thì gã lại cúi thấp đầu để cảm tạ. Kia hai cô gái mặc đầm khiêng ra cái mô hình thứ nhì của chai Côcacôla rồi cùng biểu diễn màn ảo thuật chui vào mô hình chai nước và biến mất. Kia một anh chàng ca sĩ có mái tóc dài chấm ót mặc áo nửa xanh nửa đỏ cầm micrô hát như hét bài ca “Hãy uống nước giải khát Côcacôla ngon tuyệt vời”. Kia một mụ son phấn lòe loẹt giọng õng ẹo đọc những lời khen quá đáng về thứ nước uống mà Toàn chưa thể làm quen vì quá nhiều ga và vì cái vị nồng nồng mùi thuốc Bắc của nó...

Cuối chương trình người ta khiêng ra giữa sân khấu ba cái lồng cầu và bắt đầu xổ số. Cứ mỗi một lô trúng được đọc xong người ta lại gắn những con số bằng giấy màu cắt sẵn lên tấm bảng dựng gần bên cánh gà. Toàn liếc qua đồng hồ đeo tay của ông Năm Thủy Triều: chín giờ mười lăm phút. Toàn thấy buồn ngủ thấy chán chường. Cái thế giới mà Huệ ao ước được sống như thế đó. Nó màu mè giả trá thế nào đó Toàn không chịu được. Anh không tin rằng anh chàng ca sĩ gào thét lên “Hãy uống nước giải khát Côcacôla ngon tuyệt vời” đã thích uống thứ nước giải khát lắm ga này. Anh không tin lời hứa hẹn của mụ nạ dòng son phấn “Các đề bô chúng tôi sẽ quảng cáo và bán thật nhiều nước Côcacôla”... anh chống tay tựa cằm lim dim ngủ. Trong giấc mơ màng thức tỉnh ấy bỗng Toàn nghe tiếng ông Năm hơi hốt hoảng:

- Cha... trời ơi! Xém chút xíu nữa ha...

Rồi một bàn tay ông Năm lay vai Toàn:

- Toàn! Ngủ hả? Lấy tấm vé số ra coi nào!

Toàn không nhiệt tình lắm moi trong túi ra tờ vé số đã bị anh gấp tư chẳng quan tâm. Ông Năm nhìn tấm vé số rồi ông nhìn lại tấm bảng kết quả. Miệng ông reo:

- Trúng rồi! Giải ba!

Ông bà dân biểu Ba và mấy người ngồi quanh cùng quay qua phía Toàn lao xao chúc mừng. Bây giờ thì Toàn tỉnh ngủ hẳn. Anh trúng số. Vì là số Tombôla nên giải thưởng sẽ là hiện vật lát nữa anh sẽ được lãnh nó và biết nó là vật gì? Theo như lời thông báo những người may mắn sẽ được mời lên sân khấu nhận giải thưởng. Nghĩa là lát nữa đây Toàn sẽ bước lên cái sân khấu chan hòa ánh sáng kia. Nghĩa là cái thế giới không phải của anh đã mở cửa đón anh bước vào với tất cả cái dáng vẻ thật của mình: một người lao động nghèo chất phác và không ưa sự giả dối bề ngoài. Anh có thể rút lui không? Không! Anh không được phép làm điều mình nghĩ. Lúc đó cái thời điểm đó đã tới khi ở loa phóng thanh vang ra lời mời và ông Năm Thủy Triều đẩy anh đứng dậy:

- Lên đi Toàn! Cầm theo tấm vé số. Đừng có hồi hộp bình thường thôi mà...

Toàn không đến nỗi run vì mừng hoặc run vì sợ. Nhưng anh hết sức ngượng ngùng khi phải đứng xếp hàng với nhiều người ăn mặc vượt xa mình về mức độ sang trọng. Khi gã người Pháp mũi dòm miệng bước tới trao cho anh một hộp quà vuông vức có kèm cái bao thư chìa tay bắt tay anh anh đã luống cuống mãi mới chuyển cái hộp qua tay trái để nắm lấy bàn tay trắng bủng mềm nhũn như bông của gã. Ở bên dưới hội trường người ta vỗ tay chúc mừng những người may mắn ánh đèn chụp hình lóa lên và trong khi những người lãnh thưởng kéo xuống thì anh ca sĩ lại cầm micrô bắt đầu gào thét:

- Hãy uống nước giải khát Côcacôla ngon tuyệt vời...

Ông Năm là người đầu tiên trong ba người đứng lên đón Toàn với cái bắt tay xiết chặt:

- Chúc mừng!

Bà dân biểu Ba giằng lấy cái hộp “Để coi cái gì trong này đây”. Cả bốn người cùng châu đầu vào khi bà mở nắp hộp. Ba tiếng “ồ” của ba người lớn tuổi thốt lên cùng lúc trong khi Toàn chỉ tròn mắt nhìn. Giải thưởng của anh là một đôi giày đánh xi nâu bóng lộn. Trong khi ông bà Ba và ông Năm bình luận về món quà với nhiều suy diễn khác nhau thì Toàn ôm cái hộp trong lòng nhìn lên anh ca sĩ đang gào thét: “Côcacôla ngon tuyệt vời”. Một đôi giày da đánh xi nâu bóng lộn. Đó là niềm mơ ước nhiều ngày của Toàn. Nhưng nó có thật là cần thiết với anh không? Món quà của cái thế giới không phải của Toàn đã nhắc anh nhớ về thực tại của mình. Cái thế giới đó có cánh cửa lúc mở lúc đóng chập chờn giễu cợt với anh. Nó gởi tới tay anh đôi giày phải chăng đó là điềm báo hiệu rằng anh hoàn toàn có thể bước vào vùng trời ấy với một sự may mắn?

(Hết phần 5)